Thượng Hội đồng Giám mục sắp tới về khu vực Pan-Amazon, sẽ được tổ chức tại Rome từ ngày 6 tháng 10 đến 27 tháng 10, đã gây ra nhiều tranh cãi trên nhiều mặt trận, từ những người Công giáo theo truyền thống, những người sợ rằng nó có thể dẫn đến những sự thay đổi đối với chức Tư tế cho đến Tổng thống Brazil Jair Bolsonaro, người cực kỳ nhạy cảm với bất kỳ sự chỉ trích nàotừ phía Giáo hội nhắm vào chính phủ của ông. Thế nhưng một nhóm người Công giáo cụ thể dường như đặc biệt hào hứng với cuộc họp này: các dân tộc bản địa tại khu vực Pan-Amazonia.

Linh mục Justino Rezende, một thành viên của cộng đồng Tuyuka và một Tu sĩ Dòng Salêdiêng
Thượng Hội đồng Giám mục sắp tới về khu vực Pan-Amazon, sẽ được tổ chức tại Rome từ ngày 6 tháng 10 đến 27 tháng 10, đã gây ra nhiều tranh cãi trên nhiều mặt trận, từ những người Công giáo theo truyền thống, những người sợ rằng nó có thể dẫn đến những sự thay đổi đối với chức Tư tế cho đến Tổng thống Brazil Jair Bolsonaro, người cực kỳ nhạy cảm với bất kỳ sự chỉ trích nàotừ phía Giáo hội nhắm vào chính phủ của ông. Thế nhưng một nhóm người Công giáo cụ thể dường như đặc biệt hào hứng với cuộc họp này: các dân tộc bản địa tại khu vực Pan-Amazonia.
Sau mối tương quan có vấn đề từ nhiều thế kỷ trước, Giáo hội Công giáo và các dân tộc bản địa khu vực Amazon gần đây đã trở nên hợp tác hơn, và họ đồng ý rằng Thượng Hội đồng sắp tới sẽ thúc đẩy những thay đổi quan trọng đối với các cộng đồng địa phương.
“Giáo hội Công giáo đã có một sự bành trướng khốc liệt ở khu vực Amazon. Trong Tuyên ngôn của Barbados, vào năm 1971, một số nhà nhân chủng học Mỹ Latinh đã tố cáo vai trò lịch sử của các phái bộ tôn giáo trong những sự tương tác của họ với các cộng đồng bản địa”, theo nhà nhân chủng học Lucia Rangel, giáo sư tại Đại học Giáo Hoàng Công giáo São Paulo. “Tuy nhiên, Giáo hội hiện đang thúc đẩy Thượng Hội đồng như là một trong những người hiểu rõ về một vấn đề như vậy”.
Nhiều nhà truyền giáo bản địa đã mô tả việc Giáo hội Công giáo đã bị áp đặt lên họ thế nào trong thời thơ ấu, cùng với thái độ khinh miệt đối với các nghi lễ và tín ngưỡng truyền thống của họ.
“Tôi đã được giáo dục trong nền giáo dục Công giáo kể từ những năm đầu đời bởi cha mẹ tôi và họ tin rằng họ không nên dạy chúng tôi bất cứ điều gì về kiến thức bản địa của chúng tôi. Đó không phải là một phần nằm trong ‘tiến trình văn minh’”, theo Linh mục Justino Rezende, một thành viên của cộng đồng Tuyuka và một Tu sĩ Dòng Salêdiêng, người đang hỗ trợ công tác chuẩn bị cho Thượng Hội đồng Giám mục sắp tới.
Trong những năm đào tạo của những người đàn ông và phụ nữ bản địa quyết định gia nhập hàng giáo sĩ, sức nặng của những sự khác biệt về văn hóa liên tục được cảm nhận. “Tại trường học, một vài chị em Nữ tu tôn trọng các bộ tu phục và truyền thống của chúng tôi, nhưng những người khác thì không. Tôi muốn ăn loại thức ăn truyền thống của chúng tôi, chẳng hạn như beiju [một loại bánh làm từ khoai mì] và hột tiêu, thế nhưng họ đã không cho phép tôi, do sự thiếu hiểu biết về văn hóa của chúng tôi”, Nữ tu Mariluce Mesquita, F.M.A., một thành viên của cộng đồng Bará, phát biểu với America.
“Các anh em chủng sinh của tôi tại Chủng viện cảm thấy bị sỉ nhục khi các chủng sinh khác không phải là người bản địa gọi họ là ‘những kẻ thổ dân da đỏ’. Chúng tôi được đào tạo để trở thành những con người văn minh. Nhiều chủng sinh đã rời bỏ Chủng viện không phải vì họ không nhận ra ơn gọi đối với chức tư tế, nhưng vì những mâu thuẫn như vậy”, Linh mục Rezende khẳng định.
Chỉ trong những năm 1990, theo Cha Josimar Marinho, một linh mục và là thành viên của cộng đồng Tukano, Giáo hội mới bắt đầu suy ngẫm về chủ đề của những mẫu thuẫn về mặt văn hóa. “Sau đó, chúng tôi đã bắt đầu suy nghĩ về sự hội nhập văn hóa và đức tin và để trải nghiệm Tin Mừng theo thực tế văn hóa, ngôn ngữ, các nghi lễ và các nghi thức chúc lành của chúng tôi. Nhưng đó đã là một thế hệ mới. Cha tôi không còn nữa”, Linh mục Marinho nói.
Vào thời điểm đó, nhiều người trong nhà thờ ở vùng Amazon cảm nhận được sự ảnh hưởng của các phong trào xã hội bản địa, những người đang đấu tranh cho quyền lợi của họ đối với các vùng đất truyền thống và giáo dục đặc biệt. “Đây chính là khi tôi khám phá nền thần học bản địa và hiểu được sự thích đáng của việc khôi phục sự hiểu biết trước đây của chúng tôi”, Cha Rezende giải thích.
Cha Rezende,cùng với một số linh mục và nữ tu bản địa khác, sau đó đã bắt đầu nghiên cứu về những cách thức mà truyền thống và tập quán của họ có thể kết nối với Giáo hội Công giáo. Cha mẹ tôi là những chuyên gia về các điệu nhảy. Tôi muốn làm sống lại tất cả những điều này và bắt đầu lên kế hoạch viết những suy tư của riêng mình”, Cha Rezende nói.
Cha Geraldo Baniwa, một thành viên của cộng đồng bản địa Baniwa, cảm thấy một viễn cảnh như vậy là hết sức cần thiết nếu như ngài muốn có một cuộc tranh luận liên văn hóa thực sự với người dân bản địa mà ngài làm việc cùng. “Người dân của chúng tôi không phải từ bỏ truyền thống đức tin của riêng họ để chấp nhận đức tin Công giáo. Một cuộc đối thoại là hoàn toàn có thể xảy ra”.
Tại thành phố São Gabriel da Cachoeira, thuộc bang Amazonas của Brazil, một nỗ lực lớn nhằm xây dựng một truyền thống Công giáo bản địa thực sự đang được tiến hành. Theo Đức Cha Edson Damian, người đứng đầu Giáo phận São Gabriel da Cachoeira, nhiều linh mục đã cử hành Thánh lễ bằng các ngôn ngữ bản địa. “Thế nhưng không chỉ có thế. Đã có một nghi thức phụng vụ bản địa thực sự, với các điệu nhảy, những bài Thánh ca và biểu tượng từ các nền văn hóa khác nhau trong khu vực”, Đức Giám mục Damian giải thích.
Trong số 21 linh mục đang hoạt động tại São Gabriel da Cachoeira, 10 linh mục có nguồn gốc bản địa – có lẽ là tỷ lệ cao nhất ở Brazil. “90% nhà thờ trong Giáo phận của chúng tôi đều là người bản địa. Vì vậy, tỷ lệ phần trăm của các linh mục bản địa cũng cao hơn”, Đức Giám mục Damian nói.
Không có con số chính thức, và quả là không dễ tìm thấy các linh mục bản địa ở các khu vực khác trong nước, mặc dù dân số bản địa tại Brazil tương ứng với ít nhất 900.000 người. “Các linh mục bản địa rất hiếm hoi ở khu vực bên ngoài São Gabriel da Cachoeira”, Đức Giám mục Damian nói. “Tuy nhiên, Giáo hội nơi đây đã rất nỗ lực và năng động trong việc truyền giáo và hội nhập đức tin Công giáo. Điều này đã tạo ra các cộng đồng Công giáo đầy sốt mến. Nhiều người dân bản địa tuyên bố họ là người Công giáo và không cho phép các nhà giảng thuyết thuộc bất kỳ giáo phái nào khác đi vào các ngôi làng của họ”.
Với khoảng cách địa lý lớn – tổng diện tích của São Gabriel da Cachoeira lớn hơn Bồ Đào Nha – và việc thiếu các phương tiện và điều kiện giao thông, nhiều cộng đồng mỗi năm chỉ được các Linh mục ghé thăm một vài lần. “Có 19 cộng đồng trong Giáo xứ của tôi và tôi không thể đến thăm mỗi cộng đồng trong số họ hơn bốn lần mỗi năm”, Cha Baniwa nói. “Tôi thiết nghĩ việc phong chức cho các Thừa tác viên đã kết hôn [một trong những đề xuất sẽ được thảo luận bởi các Nghị phụ] quả là sẽ rất tích cực”.
Nữ tu Mesquita, người vẫn còn sử dụng tên bản địa của mình, Diatoh, cũng hào hứng không kém về những thay đổi có khả năng xảy ra mà Thượng Hội đồng Giám mục sắp tới sẽ mang lại. “ĐTC Phanxicô đã triệu tập Thượng Hội đồng Giám mục về khu vực Amazon để củng cố các cộng đồng và đức tin của chúng tôi”, Nữ tu Mesquita nói.
Cha Rezende cũng hy vọng rằng Thượng Hội đồng sẽ cải thiện mối quan hệ của Giáo hội tại khu vực Amazon với các dân tộc bản địa. “Có lẽ các nhà truyền giáo sẽ bắt đầu đến với các cộng đồng bản địa không chỉ với ý định giảng dạy họ, mà còn học hỏi về truyền thống và kiến thức của họ”.
Minh Tuệ (theo America)