
Trong bức ảnh được chụp vào ngày 16 tháng 10 năm 2020 này, những chiếc xe hơi đang di chuyển ngang qua một bảng quảng cáo kêu gọi cử tri bỏ phiếu “Không” phản đối vấn đề an tử tại Christchurch, New Zealand. Người New Zealand đã tiến hành bỏ phiếu vào thứ Sáu, ngày 30 tháng 10 năm 2020 ủng hộ việc hợp pháp hóa vấn đề an tử trong một cuộc trưng cầu dân ý bắt buộc. Nhưng kết quả sơ bộ cho thấy họ từ chối một biện pháp nhằm hợp pháp hóa cần sa (Ảnh: Mark Baker / AP)
Theo chuyên gia về luân lý học của các Giám mục Công giáo trong nước, phán quyết của New Zealand nhằm hợp pháp hóa an tử đưa quốc gia này vào một “lộ trình nguy hiểm” và mang lại “một động lực mới và không được hoan nghênh” vào cuộc sống của những người đang đối mặt với những căn bệnh nan y.
Một cuộc trưng cầu dân ý về vấn đề này đã được tiến hành cùng với cuộc tổng tuyển cử vào ngày 17 tháng 10 – kết quả được công bố vào ngày 30 tháng 10, cho thấy các cử tri ủng hộ việc giới thiệu an tử với tỷ lệ ủng hộ đa số 65,2% so với 33,8%.
Cuộc trưng cầu dân ý về luật này đã được quốc hội New Zealand thông qua: Điều này có nghĩa là Đạo luật lựa chọn cuối đời 2019 (End of Life Choice Act 2019) phải có hiệu lực trước ngày 6 tháng 11 năm 2021.
“Chúng ta phải chấp nhận rằng chúng ta sắp vượt qua giới hạn quyết định – một bước đi không thể quay trở lại”, theo Tiến sĩ John Kleinsman, người đứng đầu Trung tâm Đạo đức Sinh học Nathaniel, một nhóm chuyên viên nghiên cứu được thành lập bởi Hội đồng Giám mục New Zealand.
“Kết quả này đi ngược lại làn sóng quan điểm trên toàn thế giới với 33 khu vực pháp lý trên khắp thế giới đã bác bỏ các luật tương tự trong 5 năm qua, bao gồm cả Vương quốc Anh và Scotland, vì những rủi ro mà nó gây ra cho những người dễ bị tổn thương”, Tiến sĩ John Kleinsman trong một tuyên bố vào ngày 30 tháng 10.
Trong quá trình xây dựng cuộc trưng cầu dân ý, Giáo hội Công giáo New Zealand đã chỉ ra các vấn đề với luật được đề xuất, mà các Giám mục cho biết thậm chí nên quan tâm đến những người ủng hộ vấn đề an tử, bao gồm thực tế là không có yêu cầu đối với một người để nói về quyết định của họ với một thành viên gia đình hoặc một người bạn đáng tin cậy; không có thời gian chờ quyết định bắt buộc như ở các nước khác – một người có thể chết chưa đến bốn ngày sau khi được chẩn đoán; không cần nhân chứng độc lập; thiếu các biện pháp bảo vệ và quy trình phát hiện sự ép buộc cũng như sự trầm cảm; và không yêu cầu một người có đủ năng lực tại thời điểm họ đưa ra quyết định cuối cùng về việc dùng các loại thuốc gây chết người.
Tiến sĩ Kleinsman cho biết “chưa bao giờ có thời điểm nguy hiểm hơn” khi giới thiệu vấn đề an tử, trích dẫn những áp lực mà hệ thống y tế của New Zealand phải đối mặt, “bao gồm khả năng tiếp cận không bình đẳng với dịch vụ chăm sóc giảm nhẹ có chất lượng và hỗ trợ sức khỏe tâm thần, và đáng lo ngại nhất là tỷ lệ ngược đãi người già, tình trạng cô đơn và sự cô lập xã hội ngày càng tăng giữa những người lớn tuổi của chúng ta”.
Tiến sĩ Kleinsman cũng lưu ý rằng nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy rằng những người đủ điều kiện chủ yếu chọn phương pháp an tử không phải vì sự đau đớn khó chữa mà vì những lý do hiện sinh và xã hội.
“Điều đó khiến cho tôi và nhiều người khác bối rối”, Tiến sĩ Kleinsman nói.
Tiến sĩ Kleinsman cũng lưu ý rằng luật không bắt buộc về mặt pháp lý các lựa chọn khác chẳng hạn như việc tiếp cận với dịch vụ chăm sóc giảm nhẹ có chất lượng hoặc giải quyết khoảng cách y tế tồn tại giữa các nhóm người New Zealand khác nhau.
“Luật này sẽ không cải thiện kết quả sức khỏe cho những người vốn đã phải chịu thiệt thòi bởi hệ thống y tế hiện tại, bao gồm cả những người Maori [dân số bản địa của New Zealand], những người chết sớm hơn trung bình bảy năm so với phần còn lại của chúng ta và những người có nguy cơ tử vong cao gấp 2,5 lần đối với những căn bệnh cụ thể so với phần còn lại của chúng ta. Nhìn như thế này, kết quả trưng cầu dân ý không thể được mô tả như là một chiến thắng cho sự lựa chọn của đa số người dân, bao gồm cả những người thiệt thòi nhất”, Tiến sĩ Kleinsman nói.
Nhà đạo đức học cũng cho biết đó là một “mối bận tâm lớn” khi luật này có phạm vi rộng hơn các luật khác ở nước ngoài và sẽ giúp bất kỳ ai được chẩn đoán mắc bệnh nan y dễ dàng lựa chọn trợ tử – ảnh hưởng đến khoảng 20.000 đến 25.000 người mỗi năm.
“Đối với rất nhiều người, Đạo luật Lựa chọn cuối đời sẽ mang lại một động lực mới và không được hoan nghênh trong cuộc sống của họ – chính sự hiện diện của sự lựa chọn an tử vong sẽ đại diện như là một gánh nặng và áp lực cho nhiều người và gia đình”, Tiến sĩ Kleinsman nói.
“Ngoài ra, việc giới thiệu trợ tử sẽ có tác động rất lớn đến tất cả những người làm việc với người sắp lìa đời – các bác sĩ, y tá và những người chăm sóc sức khỏe khác cũng như các tuyên úy, Linh mục và các Thừa tác viên giáo dân. Trong những tháng tới, chúng tôi sẽ phản ánh với các nhóm này về việc luật pháp sẽ tác động như thế nào đến những người mà họ chăm sóc, cũng như chính các nhân viên chăm sóc”, Tiến sĩ Kleinsman tiếp tục.
“Nhiều người sẽ chắc chắn xem lựa chọn một cái chết được hỗ trợ giống như việc thêm một lựa chọn thức ăn khác vào thực đơn quán cà phê đã có sẵn trong khi trên thực tế, sự thay đổi thể hiện sự biến chuyển trong toàn bộ trải nghiệm ăn uống vốn sẽ ảnh hưởng đến mọi thứ trong thực đơn cũng như dịch vụ bạn nhận được”, Tiến sĩ Kleinsman cho biết thêm.
“Nhiều người coi kết quả như là một bước tiến nhưng đối với tôi đó lại là một bước lùi. Tôi dự đoán sẽ chỉ còn là vấn đề thời gian trước khi các nghị sĩ của chúng ta sẽ phải chịu áp lực để mở rộng luật hơn nữa – đó là những gì đã xảy ra ở nước ngoài và tại sao nó lại khác biệt ở đây? Luật này đặt chúng ta vào một lộ trình rất nguy hiểm, và hôm nay mới chỉ là bước khởi đầu”.
Minh Tuệ (theo Crux)