Ông Rocco Buttiglione là Giáo sư về khoa học chính trị tại Đại học Thánh Piô V ở Rôma, đồng thời là thành viên của Học viện Giáo hoàng về Khoa học Xã hội.
Ông đã từng là Bộ trưởng phụ trách các vấn đề châu Âu và là phó Chủ tịch Hạ viện Ý. Ông cũng là tác giả của cuốn sách năm 1997: “Karol Wojtyla: Tư tưởng của người trở thành Giáo Hoàng Gioan Phaolô II”.
Trong một cuộc phỏng vấn gần đây với tạp chí Bitno của Croatia, ông Buttiglione đã thảo luận về cả về những điểm liên tục lẫn những điểm khác biệt được nhấn mạnh giữa tư tưởng của Đức Gioan Phaolô II và Đức Thánh Cha Phanxicô. Triết gia Buttiglione cũng đã thảo luận về sự suy tàn của đức tin và văn hóa của Châu Âu, nhưng lý do tại sao ông không đánh mất hy vọng, ngay cả khi dường như Giáo hội đang hấp hối.
Kính thưa ông, vào tháng Ba, chúng ta đã đánh dấu kỷ niệm 10 năm Đức Jorge Bergoglio được bầu chọn làm Giáo hoàng. Theo ông, Đức Bergoglio đã mang lại điều gì mới mẻ cho Giáo hội?
Điểm mới mẻ đầu tiên là ngài là vị Giáo hoàng đầu tiên không phải là người châu Âu. Đây là điều có ý nghĩa và đáng để suy ngẫm. Tôi nhớ khi Đức Gioan Phaolô II được bầu chọn, ngài đã đến Warsaw và ngài nói: Chúng ta không thể tránh việc đặt câu hỏi về việc tại sao Chúa Thánh Thần lại quyết định rằng chúng ta có một vị Giáo hoàng người Ba Lan trong giai đoạn này của lịch sử nhân loại, sau rất nhiều năm truyền thống được củng cố ở khu vực này. Phải chăng có lẽ điều đó có nghĩa rằng một điều gì đó trong lịch sử của Giáo hội ở Ba Lan quý giá đối với Giáo hội hoàn vũ? Chúng ta có phải đi theo con đường hành hương đến tu viện Jasna Gora và đến những nơi sùng đạo bình dân khác của Ba Lan để lắng nghe tiếng nói của Chúa Thánh Thần? Phải chăng điều đó có nghĩa là người dân Ba Lan giờ đây có một trách nhiệm đặc biệt trước Giáo hội?
Chúng ta biết điều gì đã xảy ra sau đó, và chúng ta có thể có ý tưởng về lý do tại sao Thần Khí của Thiên Chúa lại muốn đặt để một vị Giáo hoàng người Ba Lan, một Giáo hoàng người Slav, chính xác là vào thời kỳ lịch sử nhân loại đó.
Vì vậy, tôi thiết nghĩ chúng ta nên tự hỏi: “Tại sao chúng ta lại có một vị Giáo hoàng người Nam Mỹ?”. Giáo hội hiện nay chủ yếu là người ngoài châu Âu. Lần đầu tiên trong lịch sử, người Công giáo chỉ chiếm dưới 40% dân số châu Âu. Giáo hội ở Châu Âu ngày càng nhỏ lại, nhưng ở phần còn lại của thế giới, Giáo hội đang phát triển. Thỉnh thoảng người ta hỏi tôi: “Phải chăng Giáo hội sắp biến mất?”. Tôi trả lời: “Có lẽ là ở châu Âu. Trên thế giới, tất nhiên là không”. Châu Âu đang ngày càng trở nên nhỏ hơn về mặt nhân khẩu học, kinh tế, chính trị và văn hóa, và thế giới không sẵn sàng đi theo sự dẫn dắt của Châu Âu như cách đây 20-30 năm.
Một điểm nữa là Đức Thánh Cha Phanxicô xuất thân từ một quốc gia nghèo. Đức Gioan Phaolô II cũng xuất thân từ một quốc gia nghèo, nhưng đó là một kiểu nghèo khác, một sự nghèo nàn của chủ nghĩa cộng sản, kết quả của một hệ thống khác với hệ thống của chúng ta, và nó đã được khắc phục. Đức Thánh Cha Phanxicô xuất thân từ một đất nước mà ở một mức độ nào đó, họ nghĩ rằng chúng ta giàu có vì họ nghèo, rằng sự nghèo khó của họ là kết quả của hệ thống mà trong đó họ bị gán cho một địa vị tồi tệ. Và Đức Phanxicô nói ngôn ngữ của người nghèo, và ngài mang não trạng của người nghèo. Tôi không nghĩ người nghèo lúc nào cũng đúng, nhưng có một điểm họ đúng: Họ đã bị lừa. Có điều gì đó không ổn trong hệ thống, và họ đau khổ vì có điều gì đó không ổn trong hệ thống, và chúng ta đã bất công với họ.
Tôi sẽ nói thêm một điểm khác nữa. Chúng ta quen nghĩ rằng chúng ta đang sống trong thời đại của sự tục hóa, nhưng điều này chỉ đúng với châu Âu. Điều này không đúng với thế giới. Có những ý tưởng và xu hướng khác. Đức Thánh Cha Phanxicô với tư cách là một vị Giáo hoàng không phải người châu Âu bao hàm tất cả những ý nghĩa này, và qua đó, chúng ta có thể hiểu được sự mới mẻ mà ngài đã mang lại.
Chính ước muốn bao gồm toàn thể Giáo hội này đã thúc đẩy việc bắt đầu Tiến trình Hiệp hành đang diễn ra trong Giáo hội ngày nay. Nhưng dường như những câu hỏi chi phối nhất vẫn được quyết định ở châu Âu, đặc biệt là ở Đức, nơi mà Con đường Công nghị địa phương đã gợi lên một số suy đoán rằng cuối cùng có thể xảy ra một cuộc ly giáo.
Ông nghĩ gì về các chủ đề mà người Đức đã nêu lên, chẳng hạn như việc truyền chức linh mục cho phụ nữ hoặc vấn đề về các giáo sĩ kết hôn?
Ly giáo? Tôi hy vọng là không. Điều đó thật tồi tệ và vô nghĩa. Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói rất hay: Đã có một Giáo hội Tin lành ở Đức, bạn có ý muốn thành lập một Giáo hội thứ hai không? Nếu không, thì bạn phải ở trong Giáo hội Công giáo. Đức Thánh Cha muốn mọi vấn đề phải được thảo luận một cách tự do, vì vậy chúng ta hãy thảo luận, chúng ta hãy lắng nghe Thần Khí và xem Ngài đang làm gì trong đời sống của Giáo hội hiện nay.
Có một số việc không thể làm được, nhưng có những việc khác có thể làm được. Việc truyền chức linh mục cho phụ nữ dường như vấp phải sự phản đối mạnh mẽ về mặt thần học. Nhưng giáo sĩ đã kết hôn là một vấn đề khác. Luật độc thân linh mục là quy tắc của Giáo hội Latinh, chứ không phải của toàn thể Giáo hội Công giáo. Luật độc thân linh mục cố gắng kết nối hai ơn gọi vốn đã được thực hiện rất tốt, nhưng về nguyên tắc lại khác biệt nhau: trở thành linh mục và được thánh hiến cho Thiên Chúa trong sự khiết tịnh. Hai kiểu người này, hai ơn gọi này có thể được đặt cạnh nhau, và chúng ta có rất nhiều linh mục thánh thiện đã thực hành đời sống độc thân, nhưng chúng cũng có thể tách biệt với nhau.
Ở Ukraine, người Công giáo Hy Lạp chiếm đại đa số các tín hữu Công giáo, và họ có các linh mục đã kết hôn. Họ cũng có một lịch sử thánh thiện, và nhiều vị tử đạo đã bị bách hại vì đức tin của họ. Và có những câu chuyện về những gia đình thánh thiện, trong đó những người vợ chấp nhận con đường nên thánh gian nan của chồng mình, và họ cũng bước theo con đường đó. Vì vậy, chúng ta hãy lắng nghe Giáo hội, và sau đó chúng ta hãy đưa ra quyết định.
Còn vấn đề về việc chúc lành cho các cuộc kết hợp đồng giới cũng đã được đề cập nhiều lần thì sao?
Trước hết, rõ ràng là hôn nhân chỉ có thể được thiết lập giữa một nam và một nữ. Và tất nhiên, theo Giáo lý Công giáo, đồng tính luyến ái là một vấn đề nghiêm trọng của tội lỗi. Tuy nhiên, có những người, trong tình trạng khách quan của tội lỗi, từng bước hướng về đức tin Công giáo. Chúng ta sẽ nói gì với họ? Một số người trong số họ cố gắng thiết lập một cái gì đó tương tự như gia đình. Tôi đủ già dặn để nhớ về thời điểm những người đồng tính luyến ái thậm chí còn không hề mơ đến việc có một gia đình hay kết hôn. Họ phản đối hôn nhân. Họ cho rằng hôn nhân là một tục lệ ghê tởm của Giáo hội Công giáo, rằng vấn đề tính dục nên được tự do theo nghĩa không bị ràng buộc vào mối quan hệ cá nhân sâu sắc giữa hai con người và mối quan hệ cá nhân duy nhất giữa hai con người ấy.
Trong cộng đồng người đồng tính ngày nay, xu hướng đề nghị kết hôn ngày càng gia tăng. Đối với một số người trong số họ, đó chỉ là cách nói: “Không có sự khác biệt giữa các mối quan hệ đồng giới và khác giới”, nhưng tất nhiên đó không phải là sự thật. Mặt khác, có những người khác khao khát việc sử dụng tình dục không tách rời khỏi mối quan hệ tin cậy và yêu thương sâu sắc. Giáo hội không thể chúc lành cho họ, nhưng chúng ta phải trò chuyện với họ, và nói với họ rằng họ cũng là con cái của Thiên Chúa.
Tôi là một học trò của Cha Don Luigi Giussani và ngài thường nói với chúng tôi: “Đừng ngại đưa ra phán xét về sự việc” – trong trường hợp này: Đừng ngại nói rằng đồng tính luyến ái là điều xấu hoặc là điều tội lỗi nghiêm trọng – “nhưng đừng bao giờ phán xét người khác”. Vì chỉ có Thiên Chúa mới hiểu thấu lòng người. Và có thể trong mắt Thiên Chúa, người đồng tính luyến ái này cao trọng hơn bạn rất nhiều, bởi vì tất cả chúng ta đều tội lỗi, và tất cả chúng ta đều cần đến lòng thương xót.
Hãy chú ý đến các Thông điệp về xã hội của Đức Thánh Cha Phanxicô. Chúng ta biết rằng ngài đã viết ba Thông điệp về xã hội và ngài bị gọi là “vị Giáo hoàng đỏ” vì nguyên do đó. Mặt khác, ông là bạn thân của Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II, người được coi là một vị Giáo hoàng chống cộng sản. Có sự khác biệt nào trong cách các ngài tiếp cận các vấn đề liên quan đến Giáo huấn xã hội?
Tất nhiên, có nhiều sự khác biệt bởi vì thế giới đã thay đổi và để lặp lại cùng một sự thật trong các thời đại khác nhau, bạn không thể chỉ lặp lại cùng một từ, bởi vì từ ngữ đã thay đổi ý nghĩa.
Đức Gioan Phaolô II xuất hiện trong thời kỳ bị chi phối bởi sự thử thách của Giáo hội trong thời kỳ cộng sản. Giờ đây chúng ta đang sống trong một thời đại khác. Tôi không muốn nói rằng thời đại này sẽ bị chi phối bởi cuộc đấu tranh giữa Giáo hội và chủ nghĩa tư bản cực đoan (turbo-capitalism) phương Tây, nhưng rất có thể đây sẽ là dấu hiệu đặc trưng của thời đại. Ngày nay, việc viết một thông điệp lên án chủ nghĩa cộng sản có ý nghĩa gì không? Hay việc lên án chủ nghĩa xã hội dân tộc có ý nghĩ gì không? Thưa không, các chủ nghĩa ấy đã chết, đó không phải là vấn đề. Chủ nghĩa tư bản chính là vấn đề.
Cũng cần nhấn mạnh rằng Giáo hội không thông qua phán quyết khoa học về chủ nghĩa tư bản… Giáo hội đưa ra một phán quyết luân lý. Giáo hội nói: Bạn không thể để mọi người chết vì đói. Bạn không thể hạnh phúc giữa một thế giới mà trong đó nhiều người khác đang phải chịu đau khổ, hoặc bị gạt ra bên lề xã hội. 10% người dân hiện nay trên thế giới phải chịu cảnh đói kém. Điều đó đồng nghĩa với khoảng 800 triệu người! Chúng ta sẽ làm gì trước con số như vậy?
Điều đó liên quan nhiều đến Kitô giáo vì Kitô giáo là một kinh nghiệm về sự hiệp thông của con người. Nhận biết Chúa Kitô như là nhân cách đích thực của mình, chúng ta trở thành một phần của nhau. Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói rằng một người môn đệ truyền giáo là một người khi nói “tôi”, thì bao hàm trong cái “tôi” này là vợ, con, gia đình bạn bè, cha mẹ, thành phố của mình và toàn thể nhân loại. Và khi nói “tôi” thì không thể vừa nói điều đó trong khi lại quên người nghèo được. Tôi không thể có một sự tự ý thức mà không bao hàm những đòi hỏi của người nghèo. Tôi không thể hạnh phúc nếu có quá nhiều người xung quanh tôi không hạnh phúc.
Có vẻ như chúng ta đang sống trong một hệ thống mà mục đích chính là tạo ra cái mà Marx gọi là “giá trị trao đổi” chứ không phải “giá trị sử dụng”. Chúng ta sống để kiếm tiền, chúng ta không kiếm tiền để sống, và một số bị loại khỏi cộng đồng loài người vì họ không sản xuất nữa. Ngược lại, có những người sản xuất ra tiền cho đến cuối đời, và khi chết họ hoàn toàn bị hao mòn và bị xa lánh. Họ đã không sống một cuộc sống có ý nghĩa. Tệ hơn nữa, họ đánh mất liên lạc với con cái và không có bạn bè. Vì thế, mỗi khi Giáo Hội rao giảng Tin Mừng về công bằng xã hội, Giáo Hội không chỉ quan tâm đến người nghèo, mà còn quan tâm đến cả những người giàu có.
Một chủ đề khác kết nối hai Triều đại Giáo hoàng này là vấn đề lạm dụng tính dục trong Giáo hội. Đôi khi, người ta nghe thấy những lời chỉ trích rằng Đức Gioan Phaolô II, vì kinh nghiệm của ngài với những người cộng sản, đã quá miễn cưỡng tin vào những lời buộc tội chống lại các linh mục. 30 hoặc 40 năm sau, chúng ta thấy rằng nhiều điều tồi tệ đã xảy ra, và mọi người vẫn đang buộc tội Giáo hội đã không nỗ lực đủ để ngăn chặn vấn nạn này. Ông có nghĩ rằng Giáo hội hiện nay đã dành đủ tâm huyết cho vấn đề này không?
Tôi muốn đưa ra hai nhận xét. Trước hết là về các Giám mục. Vấn đề ấu dâm tự nó đã xấu, nhưng nó còn trở nên tồi tệ hơn vì chủ nghĩa giáo sĩ trị và vì những Giám mục cho rằng uy tín của hàng giáo sĩ quan trọng hơn sự đau khổ của nạn nhân, vì vậy họ cố gắng bao che bất cứ điều gì xảy ra, thay vì lên án vấn nạn này. Những vụ bê bối này cho chúng ta thấy sự thiếu tôn trọng không chỉ đối với các nạn nhân, mà còn đối với các linh mục vì các Giám mục phải là cha của các linh mục của họ, và tôi tự hỏi, những người cha này có bao giờ nhận thấy rằng một số con cái của họ đang tuyệt vọng, và đang sống một cuộc sống hai mặt? Các Giám mục thường nói: “Tôi chưa bao giờ để ý, tôi chẳng mảy may nghi ngờ”. Điều đó còn tệ hơn nhiều so với việc nói rằng: “Tôi cảm thấy có điều gì đó không ổn”. Bởi vì điều đó có nghĩa là bạn không phải là một người cha và bạn đã không dành thời giờ các linh mục của mình.
Điều thứ hai là sự giả hình của những người đang công kích Giáo hội. Khi tôi còn trẻ, ý kiến chung về vấn đề ấu dâm trong xã hội cho rằng đó là một tội ác, hay tội lỗi, giống như bất kỳ tội ác nào khác. Vị linh mục nào bị kết tội sẽ bị chuyển đến một tu viện để cầu nguyện và làm việc đền tội trong một hoặc hai năm, sau đó ông ta được tha tội và lại được sai đến một nhà thờ Giáo xứ nào đó. Nhà nước cũng đã làm y như vậy. Sau khi người bị kết án mãn hạn tù, người này sẽ lại được tiếp tục quay trở lại đời sống dân sự, giống như bất kỳ người nào khác.
Mãi sau này, chúng ta mới nhận ra rằng ấu dâm là một chứng rối loạn nhân cách sâu sắc và nó có liên quan đến hành vi tiếp diễn. Đồng thời, ngày trước người ta cho rằng những đứa trẻ sẽ dễ dàng quên đi những gì đã xảy ra với chúng. Mãi sau này chúng ta mới nhận ra rằng các nạn nhân phải chịu đựng trong một thời gian dài, có lẽ là cả đời. Và đó là một trở ngại to lớn đối với sự phát triển đầy đủ tính cách của họ.
Một số người từ những khu vực văn hóa mà ngày nay là những người tố cáo Giáo hội kịch liệt nhất thì cách đây vài thập kỷ lại đã muốn tự do hóa nạn ấu dâm. Hãy nghĩ về đảng Xanh. Hãy nghĩ về Đảng Xã hội ở Đức và một số quốc gia khác. Họ đã có một đề xuất về việc phi hình sự hóa tội phạm ấu dâm. Và hãy nghĩ về những trí thức vĩ đại mà tất cả chúng ta coi là bậc thầy của tư tưởng phương Tây, tôi xin nói thêm: tư tưởng phương Tây trong thời đại suy tàn này. Jean-Paul Sartre, Simone de Beauvoir, Michel Foucault, và nhiều người khác…62 người trong số họ đã ký một bản tuyên ngôn yêu cầu phi hình sự hóa tội phạm ấu dâm. Họ muốn nó được coi là một giai đoạn bình thường của sự phát triển trong cuộc đời của một đứa trẻ. Daniel Cohn-Bendit, thủ lĩnh Đảng Xanh của Đức và Pháp, đã viết cuốn sách Le grand Bazaar, trong đó ông công khai giới thiệu mình là một kẻ ấu dâm. Đó là não trạng của châu Âu trong những năm dưới Triều đại Giáo hoàng của Đức Gioan Phaolô II. Và Giáo hội đã bị cáo buộc chống lại sự hạnh phúc của trẻ em vì Giáo hội chống lại việc quan hệ tình dục với trẻ em. Có ai nhớ điều này không? Tôi thì nhớ đấy.
Hãy quay sang Châu Âu, nơi mà Đức Thánh Cha Phanxicô từng so sánh với một bà cụ đã mệt nhừ. Khi nào và tại sao châu Âu đánh mất vị thế của nó với tư cách là trung tâm thúc đẩy sự thay đổi xã hội trên toàn thế giới?
Tôi sẽ giải thích điều này thông qua câu chuyện về sự thất bại của hiến pháp châu Âu. Tôi đã từng là thành viên của Ủy ban Nghị viện về Cải cách Hiến pháp, và cùng với một số thành viên khác làm việc về việc đưa các giá trị Kitô giáo vào hiến pháp châu Âu, nhưng chúng tôi đã bị đánh bại. Và cuối cùng, chúng ta không những không có các giá trị Kitô giáo trong hiến pháp mà còn kết thúc bằng việc chẳng có hiến pháp nào cả. Hai điều này có mối liên hệ với nhau bởi vì, trong một cuộc trưng cầu dân ý ở Pháp, những người muốn có hiến pháp châu Âu cảm thấy bị xúc phạm bởi thực tế là không có giá trị Kitô giáo và đã không bỏ phiếu. Và những người chống lại các giá trị Kitô giáo và hiến pháp đã bỏ phiếu.
Với sự từ chối này, chúng ta tự thấy mình rơi vào một tình huống đã gây ra cảm giác chống châu Âu mạnh mẽ ở nhiều quốc gia. Và điều này tạo ra một vấn đề lớn bởi vì chúng ta cần Liên minh châu Âu. Trong thế giới ngày nay, có một sự tập trung quyền lực to lớn trên cơ sở lục địa. Bạn thấy đấy, Hoa Kỳ không phải là một quốc gia như Ý hay Croatia, nó là một lục địa. Và Trung Quốc là một lục địa khác. Ấn Độ là một lục địa. Trong tương lai gần, hoặc chúng ta sẽ học cách đoàn kết và cùng nhau thực thi chủ quyền của mình hoặc chúng ta sẽ chỉ là những con rối trong tay các cường quốc.
Nhưng bạn không thể có một châu Âu thống nhất nếu bạn không có người dân châu Âu. Và bạn không thể có một dân tộc châu Âu nếu bạn không thừa nhận một lịch sử chung, và nếu bạn không có những giá trị chung. Và đây chính là những gì chúng ta đã phớt lờ… Tôi đã sẵn sàng chấp nhận thuật ngữ “các giá trị Do Thái giáo – Kitô giáo (Judeo-Christian)” – Tại sao không? Xét cho cùng, Chúa Giêsu cũng là một người Do Thái – hay “các giá trị Do Thái-Kitô giáo và cổ điển”, bởi vì châu Âu phát triển từ cuộc gặp gỡ với triết học Hy Lạp, luật La Mã và tôn giáo Kitô giáo. Tôi cũng không ngại đề cập đến Thời kỳ Khai sáng, bởi vì Thời kỳ Khai sáng tồn tại từ các giá trị Kitô giáo, được diễn giải theo cách thức thế tục, theo triết lý về tính nội tại chứ không phải sự siêu việt. Nhưng chúng ta đã kết thúc song lại không có các quy tắc văn hóa chung. Chương về văn hóa trong bản hiệp ước thống nhất của châu Âu chỉ có một điều. Và rõ ràng là họ viết vì họ biết họ phải viết gì đó về văn hóa, nhưng họ không biết viết gì.
Vấn đề là, chúng ta đã đánh mất đi sự nhiệt tình mà chúng ta đã có trước đây. Hãy xem bài Ode of Joy, quốc ca của Châu Âu: “Freude, schöner Götterfunken, Tochter aus Elysium, Wir betreten feuertrunken, Himmlische, dein Heiligtum!” có nghĩa là: “Niềm vui, ôi tia sáng rực rỡ của thần linh, người con gái từ miền cực lạc! Chúng tôi bước vào cõi thiên đường, ngất ngây trong ánh lửa thiêng!”. Chính thần linh đã phá vỡ những giới hạn trong nhân cách cá nhân của tôi và tạo ra “chúng ta”, vì vậy tôi không nghĩ là “tôi” nữa mà là “chúng ta”. Đó là một hình thức của sự kết ước của các quốc gia. Và nếu không có sự nhiệt tâm tôn giáo này, bạn không thể có “chúng ta”. Và chúng ta đã đánh mất, đã từ chối sự nhiệt tâm tôn giáo này.
Sự trống rỗng tâm linh này là một điều gì đó được cảm nhận mạnh mẽ. Thần học gia người Séc Tomas Halik cho biết các nhà thờ trống rỗng mà chúng ta trải qua trong cuộc khủng hoảng COVID có lẽ là dấu chỉ của thời đại, về những gì đang chờ đợi chúng ta trong tương lai – không chỉ ở Tây Âu mà còn ở Đông Âu, nơi ít nhất vẫn còn một số người đi nhà thờ. Ông nghĩ điều gì đã xảy ra với cảm thức về sự linh thiêng ở người châu Âu?
Việc khám phá ra khoa học hiện đại đã tạo ra sự khác biệt lớn giữa Tây phương, nơi châu Âu thuộc về, với phần còn lại của thế giới. Khoa học hiện đại dựa trên kiến thức về sự chuyển động của các vật thể thuần túy trong thời gian và không gian. Nhưng theo quan điểm của Aristotle, và trong tầm nhìn về thực tại của nhiều người khác, vật thể không phải là vật thể thuần túy, bởi vì chúng có linh hồn, phẩm giá, thước đo của cái đẹp. Chúng được nhìn không chỉ bằng con mắt của nhà khoa học mà còn bằng con mắt của một nhà thơ. Chúng ta ở phương Tây đã khám phá ra khoa học hiện đại, nhưng dường như chúng ta đang phải trả giá cho điều này bằng cách đánh mất khả năng nhìn thấy các chiều kích khác về thực tại. Chúng ta đã mất khả năng nhìn thấy thực tại như một nơi cũng còn có các chủ thể.
Chúng ta đã mở rộng rất nhiều tính hợp lý mang tính công cụ, nghĩa là khả năng sử dụng các đối tượng để thực hiện những mong muốn của chúng ta. Nhưng chúng ta đã đánh mất sự khôn ngoan, khả năng nhận biết điều gì đáng để khao khát, bởi vì chúng ta không được giáo dục để hình thành những mong muốn của mình. Lấy vấn đề tính dục làm ví dụ. Ngày nay người ta quan hệ tính dục ít hơn nhiều so với trước đây. Và lý do nằm ở chỗ chúng ta nói với những người trẻ tuổi: “Hãy làm bất cứ điều gì bạn muốn”. Và những người trẻ ước rằng chúng ta sẽ nói cho họ biết điều gì là đáng giá, trong lĩnh vực tính dục, cũng như trong các lĩnh vực khác của cuộc sống.
Một triết gia đã nhận thấy rất rõ điều này là Heidegger. Heidegger đã nhìn thấy sự xa lánh ngày càng gia tăng của phương Tây, khi chúng ta đã trở thành những người xa lạ với chính mình. Chúng ta không sống từ bên trong. Chúng ta không có sự nhiệt huyết thực sự. Sự nhiệt huyết của chúng ta được định hướng bởi giới giải trí, bởi cuộc sống của các ngôi sao ở Hollywood, chứ không phải bởi cuộc sống của chính chúng ta. Và khi chúng ta hướng mắt về cuộc sống của chính mình, chúng ta không tìm thấy ý nghĩa trong đó.
Điều này cũng ảnh hưởng đến Giáo hội?
Tất nhiên là có, nhưng chúng ta đừng bao giờ mất hy vọng. Đôi khi người ta hỏi tôi: “Liệu Giáo hội có tồn tại được trong thế kỷ 21 không?”. Và tôi nói với họ rằng hơn một lần trong lịch sử Giáo hội đã chết. Giáo hội đã chết vào thế kỷ thứ 6, và Thiên Chúa đã sai Thánh Bênêđictô và Thánh Cyrilô và Thánh Methodiô và Thánh Patrick đến, và Giáo hội đã phục sinh. Và một lần nữa vào thế kỷ 12, vào thời kỳ dị giáo nghiêm trọng của dân Albigensian và Cathars, Thiên Chúa đã sai Thánh Phanxicô và Thánh Đaminh đến, và Giáo hội đã được phục sinh. Một lần nữa, Giáo hội lại chết đi trong cuộc Cải cách vào thế kỷ 16, nhưng đã được phục sinh nhờ Thánh Inhaxiô Loyola, Thánh Têrêsa, Thánh Charles Borromeo, v.v. Giáo hội đã chết đi và phục sinh. Điều quan trọng duy nhất trong đời là nhìn thấy các Thánh trong thời đại của anh chị em và noi theo các ngài.
Những vị Thánh thời đại ngày hôm nay là ai?
Vâng, tôi đã gặp một số vị Thánh trong đời. Một vị Thánh trong số đó là Đức Gioan Phaolô II, nhưng như tôi đã nói, ngài thuộc về một thời đại khác. Chắc chắn Thiên Chúa sẽ để các vị Thánh khác xuất hiện.
Khi chúng ta nói về châu Âu và sự suy giảm đời sống tâm linh, bản thân ông có một lịch sử thú vị với chủ đề này. Lẽ ra ông phải trở thành ủy viên châu Âu, nhưng ông không muốn phủ nhận Giáo huấn của Giáo hội rằng hôn nhân là khế ước giữa một nam và một nữ, vì vậy ông đã bị loại. Ông đã bao giờ hối hận về quyết định của mình chưa?
Thưa không. Vì hai lý do. Lý do đầu tiên là chúng ta đã thua một trận lớn. Lịch sử cá nhân của tôi là một phần của trận chiến vĩ đại mà chúng ta đã thua cuộc. Cuộc chiến của các giá trị Kitô giáo trong hiến pháp và cuộc chiến của chính hiến pháp. Ngoài ra, tôi có thể đã làm được rất ít ngay cả khi tôi đã trở thành một ủy viên, bởi vì tôi sẽ là ủy viên trong một ủy ban chắc chắn là hoàn toàn bất lực.
Và lý do thứ hai là đôi khi khi nhìn mình trong gương vào buổi sáng, tôi nghĩ về gã đàn ông là chính mình năm 16 tuổi. Rồi tôi tự hỏi: “Giờ đây, gã đàn ông ấy sẽ nghĩ gì về tôi? Gã đàn ông ấy có tự hào về những gì tôi đã làm hoặc những gì tôi sẽ làm hôm nay không?”. Và ngày hôm đó, kết luận của tôi là: “Chà, gã đàn ông ấy sẽ không quá hài lòng với những gì tôi đã trở thành bây giờ. Một người phục vụ lương tâm của mình”. Phải chăng việc nắm giữ một ghế trong Ủy ban châu Âu có giá trị hơn lương tâm của một người? Tôi không nghĩ vậy.
Về việc này, tôi chỉ tiếc một điều là không biết lẽ ra mình có thể làm khác đi. Tôi không muốn xúc phạm bất cứ ai. Tôi không muốn lên án những người đồng tính luyến ái. Tôi từng là bạn của những người đồng tính luyến ái, một trong số họ là nhà viết kịch vĩ đại người Ý Giovanni Testori và ông ấy thường nói với tôi: “Tôi là kẻ có tội, nhưng cậu cũng vậy Rocco, còn tệ hơn tôi nữa”. Tôi sẽ trả lời: “Tất nhiên rồi, Giovanni, tôi là một tội nhân. Có lẽ tệ hơn cậu nữa, chẳng ai biết”. Và vì vậy, tôi xin lỗi nếu tôi xúc phạm họ. Nhưng tôi luôn nói: “Tôi cũng là người tội lỗi như cậu thôi, đừng sợ nhìn nhận mình là tội nhân trước mặt Thiên Chúa, và hãy cầu xin Thiên Chúa xót thương”.
Đã có một cuộc biểu tình chống lại tôi. Tôi đã đến nhà hát và có một số chiến binh LGBTQ cầm biểu ngữ. Và trên biểu ngữ có nội dung: “Chúng tôi, những người tội lỗi”. Tôi đã đến chỗ họ, giữa chúng tôi có cảnh sát, tôi yêu cầu viên cảnh sát để tôi đi, vì vậy tôi đã đặt mình dưới biểu ngữ đó và nói: “Tôi cũng là một kẻ tội lỗi như các bạn và tôi sẽ không từ chối các bạn, những người anh em của tôi, vì tội lỗi của các bạn. Vì vậy, xin đừng từ chối tôi vì những tội lỗi của tôi”.
Trường hợp của ông đặt ra câu hỏi về những gì người Công giáo trong giới chính trị ngày nay có thể làm để tạo ra những thay đổi. Ví dụ, tôi không nghĩ rằng có thể một đảng chính trị ủng hộ việc cấm phá thai có thể giành chiến thắng trong cuộc bầu cử – ngay cả ở Croatia, chứ đừng nói đến các quốc gia Tây Âu. Vì vậy, phạm vi hoạt động của người Công giáo trong lĩnh vực chính trị ngày nay là gì?
Tôi nghĩ rằng người Công giáo vẫn giữ vững tinh thần trong một thời đại mà họ đã bị đánh bại. Khi người Công giáo nghĩ đến chính trị, hầu hết họ nghĩ đến đảng Công giáo. Tự nó thì đây không phải là một vấn đề, nhưng Đức Thánh Cha Phanxicô, người mà Triều đại Giáo hoàng của ngài mang nặng tính chính trị, đã đề xuất một cách thức khác. Ngài nhấn mạnh rằng chúng ta không phải xây dựng một đảng phái mà phải xây dựng một dân tộc, một quốc gia. Bạn thấy đấy, quốc gia không phải là một điều gì đó có hay không có. Quốc gia là một quá trình. Đó là một hệ thống các quy trình. Và các quốc gia được sinh ra bất cứ khi nào hai người quy tụ lại với nhau, và họ nhận ra nhau và bắt đầu nghĩ về “chúng ta”.
Các quốc gia được sinh ra trong các gia đình, trong các nhóm bạn bè, trong các tổ chức xã hội dân sự, trong thành phố, v.v., hướng đến nhà nước. Vì vậy, điều người Công giáo nên làm trong lĩnh vực chính trị là tái tạo lại cảm giác của việc thuộc về một cộng đồng. Tái tạo tinh thần của một cộng đồng quốc gia…Chúng ta hiện diện ở đây để nói rằng Chúa Giêsu Kitô là vị cứu tinh của nhân loại. Và tất nhiên, trong thời gian thích hợp, chúng ta cũng phải nói rằng phá thai là điều sai trái, hay vấn đề đồng tính luyến ái là điều sai trái, nhưng không lên án bất kỳ ai, điều này sẽ để sau.
Đức Thánh Cha Phanxicô trong Tông Huấn Evangelii Gaudium nói rằng: Đừng lãng phí thời gian của bạn để bảo vệ không gian quyền lực. Chúng ta phải kích hoạt các quá trình trong đó cuộc sống của mọi người thay đổi. Các tín hữu Công giáo trở thành những người theo chủ nghĩa Lênin và bắt đầu tin rằng chúng ta phải chiếm được Cung điện Mùa đông, quyền lực nhà nước, rồi chúng ta sẽ thay đổi thế giới. Không. Chúng ta phải bắt đầu với một nhóm nhỏ sống với nhau như huynh đệ. Những người sống theo chân lý, những người thực sự quan tâm đến hạnh phúc của người khác. Và nếu điều này thịnh hành, nó sẽ thay đổi cuộc sống của dân tộc.
Bạn thấy đấy, vấn đề đầu tiên không phải là “Phải làm gì?”. Năm 1903, Lênin đã xuất bản một tập sách nhỏ có nhan đề: “Việc cần làm là gì?”, nhưng đó là câu hỏi sai. Đó là câu hỏi của cộng sản. Một nhóm các nhà tư tưởng, trong đó có Bulgakov và Berdyayev, đã xuất bản cuốn “Những vấn đề của chủ nghĩa lý tưởng” cùng năm. Và họ đặt câu hỏi: “Chúng ta sẽ thế nào?” Phương thức hành vi chính xác là gì? Tôi nghĩ chúng ta nên bắt đầu với câu hỏi này, và tất cả những điều còn lại sẽ đến sau. Có người viết rằng: Đừng nghĩ đến mùa gặt, mà chỉ nghĩ đến việc gieo đúng cách.
“Chúng ta sẽ thế nào?” có vẻ như là một câu hỏi rất phù hợp ngày nay, bởi vì có những hệ tư tưởng như chủ nghĩa chuyển giới (transgenderism) hoặc chủ nghĩa biến thể nhân học (transhumanism) muốn làm cho con người biến mất, cùng với mọi thứ chúng ta biết về chúng. Bạn nghĩ điều gì đằng sau ý tưởng con người muốn trở thành “người chuyển giới”?
Sự tuyệt vọng cùng tận, thiếu hy vọng. Nó đã được mô tả bởi Pascal. Pascal có khái niệm “sự tiêu khiển”. Đó là một nỗ lực không cho phép sự chú ý của bạn tập trung vào chính mình. Bạn cố tránh đi vào chiều sâu của mình. Bạn cố gắng trốn tránh câu hỏi: “Tôi thực sự là ai?”, “Tôi thực sự yêu thích điều gì?”, “Tôi thực sự cần trở thành người như thế nào?”. Ở trong trạng thái này, bạn nỗ lực tìm kiếm những thứ làm phân tán sự chú ý của mình để bạn không nhìn vào chính mình, và không tìm thấy điều gì thực sự quan trọng.
Ngoài ra, có một sự nhầm lẫn lớn về ý nghĩa của tự do. Tự do là gì? Giờ đây họ cố nói: tự do là muốn làm gì thì làm. Đó không phải là tự do. Tự do là thuộc về. Khoảnh khắc tôi cảm thấy tự do nhất trong cuộc đời mình là khi người con gái tôi yêu nói “đồng ý” với tôi. Tự do là sự thỏa mãn ước muốn. Nhưng để được tự do, bạn phải biết mong muốn của mình là gì. Bạn phải bày tỏ mong muốn của mình, và bạn phải cầu nguyện để mong muốn của mình được thực hiện. Tự do giống như một điệu nhảy. Tôi cố gắng dẫn dắt, nhưng người con gái đó có thể dẫn tôi sang một hướng khác và tôi phải học cách di chuyển cùng với những người khác. Và Thiên Chúa chính là âm nhạc mà trong đó điệu vũ diễn ra. Và giờ đây, họ không muốn chúng tôi giao tiếp với nhau. Phong cách hiện đại của điệu vũ mà bạn di chuyển, nhưng bạn không nhảy múa cùng với người khác, là một hình ảnh tốt về điều đó.
Để kết thúc cuộc trò chuyện, chúng ta hãy chuyển sang những diễn biến gần đây nhất trong lĩnh vực chính trị. Khi bà Giorgia Meloni trở thành Thủ tướng của Ý, có nhiều người thuộc phe bảo thủ tỏ ra hăng hái khi hiện nay có một nhà lãnh đạo ở châu Âu không ngại thúc đẩy các giá trị bảo thủ.
Thậm chí còn có một số kiểu nhiệt tình rằng làn sóng này sẽ tiếp tục ở các quốc gia châu Âu khác, vì vậy có thể có một số hình thức của thái độ phản cách mạng bảo thủ. Sự nhiệt tình này có còn tồn tại không, ít nhất là ở Ý, và ông nhìn nhận nó như thế nào?
Tôi phải nói rằng tôi không thích bà Giorgia Meloni trong suốt một khoảng thời gian dài trong sự nghiệp của bà ấy, nhưng trong hai hoặc ba năm gần đây, bà đã làm rất tốt. Tôi không biết liệu bà Giorgia thực sự là con người của quá khứ trước đây hay hiện tại. Có lần tôi nói với bà ấy: “Thưa bà Giorgia, xin đừng nói: ‘Chúng tôi muốn rời khỏi châu Âu’. Thay vào đó, hãy nói: ‘Chúng tôi không thích châu Âu như này, chúng tôi muốn một châu Âu tốt đẹp hơn. Chúng tôi muốn nhiều châu Âu mang đậm nét châu Âu hơn và một châu Âu tốt đẹp hơn’”. Có vẻ như giờ đây bà ấy đang đi theo những đường hướng này.
Ngoài ra, tôi muốn cảnh báo chống lại thái độ phản cách mạng, tùy thuộc vào ý nghĩa của thuật ngữ đó. Phản cách mạng không nên là cuộc nổi dậy của phe đối lập. Phản cách mạng, theo nghĩa tích cực của nó, phải đối lập với một cuộc cách mạng – khả năng giảm bớt sự căng thẳng chính trị, khả năng tham gia đối thoại với đối thủ của bạn và đưa ra các chính sách mà tất cả mọi người đều có thể tham gia.
Vấn đề thực sự ngày nay là sự căng thẳng trong phạm vi chính trị. Mọi người không trò chuyện với nhau. Và có vẻ như một số người trong số họ ở đây đang nghĩ rằng quốc gia không có đối thủ của họ sẽ tốt hơn. Không, Ý sẽ tốt hơn nếu có phe đối lập tốt hơn hoặc có chính phủ tốt hơn, tùy thuộc vào quan điểm của bạn, nhưng sẽ không tốt hơn nếu “không có” phe đối lập hoặc chính phủ. Chúng ta hãy trò chuyện, chúng ta đừng đánh mất liên hệ với nhau.
Nói về việc đánh mất sự liên hệ giữa người với người, ông nhận thấy cách giải quyết cuộc xung đột ở Ukraine như thế nào? Có bất kỳ hình thức giải pháp nào có thể xảy ra trong tương lai gần không?
Tôi nghĩ rằng chúng ta nên tạ ơn Đức Trinh Nữ Maria vì chúng ta đã giành chiến thắng trong vòng đầu tiên, nhưng giờ đây chúng ta phải đàm phán với Putin. Putin sai, nhưng ông ấy là một con người. Kết quả rất có thể là chiến tranh sẽ kéo dài trong một thời gian dài. Một triệu người sẽ chết, và phần lớn Ukraine đã bị tàn phá với sự đau khổ to lớn của con người.
Chúng ta đang chứng kiến một loạt các cuộc tấn công của Nga và các cuộc phản công của Ukraine, mỗi lần giành được và đánh mất trên 50.000 – 60.000 km2 lãnh thổ, và khó mà thấy được hồi kết. Một mặt, người Ukraine sẵn sàng chiến đấu và hy sinh vì đất nước của họ. Nếu có ai nghi ngờ sự tồn tại của quốc gia Ukraine, thì người Ukraine đã làm chứng bằng máu của họ rằng có một dân tộc Ukraine. Mặt khác, phương Tây không sẵn sàng cung cấp cho người Ukraine những vũ khí cần thiết để giành được chiến thắng cuối cùng vì họ sợ chiến tranh hạt nhân có thể là kết quả của sự thất bại hoàn toàn của Nga.
Điều này có nghĩa là chúng ta phải đàm phán thương lượng. Lúc này tốt hơn khi sau này mọi thứ đã muộn. Và tôi nhận thấy rằng ý tưởng này bắt đầu đạt được tiến bộ ở Mỹ. Tôi cũng cho rằng thật sai lầm khi từ chối đề xuất của Trung Quốc mà không cân nhắc. Tất nhiên, đó không phải là một đề xuất hay, nhưng ít nhất chúng ta nên bắt đầu một cuộc thảo luận. Trung Quốc có thể làm cho việc giải quyết xung đột dễ dàng hơn. Cơ hội này đã vụt mất, và giờ đây mối nguy hiểm lớn nhất là cuộc khủng hoảng Đài Loan sẽ theo sau. Đó là Chiến tranh thế giới thứ III từng phần mà Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhiều lần đề cập. Cuộc khủng hoảng thế tục ở châu Âu mà chúng ta đã thảo luận đã khiến chúng ta mất khả năng nhìn thế giới và những diễn biến trên thế giới, và điều này đã dẫn chúng ta đến cảnh chiến tranh. Chúng ta phải cầu nguyện với Đức Trinh Nữ Maria để chiến tranh không lan rộng, và chúng ta phải trò chuyện, phải đàm phán thương lượng với nhau.
Minh Tuệ (theo The Pillar)
