Cách thức Đức Thánh Cha Phanxicô đang làm sống lại tầm nhìn địa chính trị của Đức Gioan XXIII
![epa07552770 Pope Francis (C) is welcomed by North Macedonia Prime Minister Zoran Zaev (L) upon his arrival at Skopje airport, in Skopje, North Macedonia, 07 May 2019. Pope Francis is visiting Bulgaria and North Macedonia from 05 to 07 May; his 29th Apostolic Journey abroad. EPA/POOL (MaxPPP TagID: epalivefour039797.jpg) [Photo via MaxPPP]](https://dcctvn.org/media/uploads/2019/05/1557222859.jpg)
Chuyến viếng thăm của ĐTC Phanxicô tới Bulgaria và Bắc Macedonia có thể không gây ra cảm xúc mạnh mẽ như những chuyến Tông du của Ngài tới Bán đảo Ả Rập hoặc Hoa Kỳ. Nhưng nó tiết lộ nhiều điều về những điểm tương đồng trong những câu chuyện cuộc đời của Đức Jorge Mario Bergoglio và Đức Angelo Giuseppe Roncalli.
Chín năm Đức Roncalli trải qua với tư cách là Đại diện của Vatican tại Bulgaria (1925-1934) chính là thời kỳ quyết định trong việc hình thành nên Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII trong tương lai. Khi Ngài đến Sofia vào ngày 25 tháng 4 năm 1925, Bulgaria là một quốc gia bị cản trở bởi những biến động chính trị và bên bờ vực nội chiến. Đất nước vừa bị chấn động bởi hai vụ tấn công.
Đầu tiên là một vụ ám sát thất bại nhắm vào quốc vương. Vụ tấn công thứ hai, chỉ 10 ngày trước sự xuất hiện của Đức Roncalli, là vụ đánh bom nhằm vào Nhà thờ Chính Tòa tại Sofia, khiến 128 người thiệt mạng.
Trong nhiệm vụ ngoại giao của mình tại Bulgaria, vị Giáo Hoàng tương lai đã có cơ hội tìm hiểu về Đông Âu và Kitô giáo Công giáo ngoài La Mã; cụ thể là, Giáo hội Chính thống Bulgaria.
Nhưng Ngài cũng có được cái nhìn sâu sắc về sự pha trộn phức tạp của chủ nghĩa thực dân kết nối với các cường quốc phương Tây và các phái bộ Công giáo. Đức Roncalli cũng đã bắt đầu khám phá thế giới Hồi giáo ở Thổ Nhĩ Kỳ thời hậu Ottoman gần đó, thậm chí trước khi được bổ nhiệm làm nhà ngoại giao của Giáo Hoàng tại Istanbul vào cuối năm 1934.
Sự từ chối tức khắc của vị Giáo Hoàng tương lai đối với chủ nghĩa dân tộc
Đức Roncalli đã rong ruổi trên khắp Bulgaria. Điều này mang đến cho anh ta trải nghiệm đầu tiên về một thực tại được định hình bởi những sự kết hợp về phương diện lịch sử, chính trị, xã hội và Giáo hội hết sức phức tạp.
Nó cho Ngài cái nhìn sâu sắc độc đáo về các cuộc xung đột giữa các quốc gia và các tôn giáo được tổ chức dọc theo biên giới của Đông Âu.
Có Hy Lạp ở phía nam, khu vực của Đế quốc Áo-Hung cũ ở phía tây và Nga Liên Xô ở phía bắc.
Về phía đông nam cũng là Thổ Nhĩ Kỳ mới nổi, đang phải vật lộn với một cuộc cách mạng xã hội, chính trị và văn hóa chống lại sự Tây phương hóa miễn cưỡng, được cho là thiết yếu vào cuối Đế chế Ottoman sau thất bại của nó trong Thế chiến thứ nhất.
Tất cả điều này là một phần của một trò chơi địa chính trị lớn đối với các Giáo hội trong lần thở hổn hển cuối cùng của “thế kỷ XIX kéo dài”, thời kì bắt đầu từ Cách mạng Pháp (1789) và kết thúc bằng sự qua đời của Đức Piô XII (1958).
Trong thời kỳ này, Giáo hội đấu tranh để duy trì vị thế chính trị và xã hội của mình bằng cách thỏa hiệp với chủ nghĩa chuyên chế.
Sau Thế chiến thứ nhất, nhiều người ở Vatican và ở Kitô giáo phương Tây đã nhìn thấy cơ hội chiếm giữ khoảng trống còn lại ở Đông Âu do sự sụp đổ của các đế chế Áo-Hung và Nga hoàng Nga.
Nhưng Đức Roncalli nhận thấy rằng việc liên kết chủ nghĩa dân tộc với tôn giáo, cả ở phương Đông chính thống và phương Tây Công giáo, sẽ trở thành một vấn đề trọng tâm.
Là một nhà ngoại giao Giáo Hoàng tại Bulgaria, Đức Roncalli bắt đầu bác bỏ chủ nghĩa dân tộc và các biểu hiện về thần học và tôn giáo được sử dụng để hỗ trợ nó. Ngài đã triển khai các kháng thể chống lại sự hợp nhất giữa quốc gia và tôn giáo, giữa Công giáo và ý thức hệ.
Điều này định hình cách giải thích của Ngài về thời kỳ giữa các cuộc chiến tranh, Thế chiến II và bắt đầu cuộc Chiến tranh Lạnh, cho đến Công đồng Vatican II (1962-1965).
Sự ác cảm của Đức Roncalli đối với các Giáo hội được kết hợp với các mục đích liên quan đến quốc quyền chủ nghĩa đã trở thành một phần trong tầm nhìn thế giới của vị Giáo Hoàng tương lai.
Nó hoàn toàn khác với những người muốn đưa tư tưởng chính trị vào việc phục vụ Giáo hội, một vấn đề điển hình trong phần lớn văn hóa giáo sĩ trong thời kỳ khi mà chủ nghĩa độc tài toàn trị và chủ nghĩa phát xít ngự trị ở phần lớn châu Âu.
Bóng ma của thế kỷ XIX kéo dài
Liệu có phải chúng ta đang trở lại những thời điểm đó? Chắc chắn sẽ có những dấu hiệu cảnh báo.
Matteo Salvini, bộ trưởng nội vụ và là một con người mạnh mẽ của chính phủ Ý, gần đây đã đến thăm Hungary và ca ngợi bức tường đã được quân sự hóa của nó để ngăn chặn những người nhập cư.
Đó là một phần trong những nỗ lực không ngừng của ông nhằm củng cố liên minh chính trị với thủ tướng Hungary Viktor Orban, một nhà lãnh khác đạo tự xưng mình là người Kitô hữu ở châu Âu ngày nay.
Ngoài ra còn có Steve Bannon, cựu chiến lược gia của Donald Trump, người tiếp tục khuấy động và khuyến khích các phong trào dân túy trong số những người dân Lục địa cũ khi họ chuẩn bị bỏ phiếu sau đó vào tháng 5 cho các đại diện của Nghị viện châu Âu.
Vấn đề được đặt ra bởi cuộc hôn nhân của Giáo hội và chủ nghĩa dân tộc không có gì rõ ràng như trong tình hình giữa Nga và Ukraine. Đó chính là lý do tại sao ĐTC Phanxicô lại triệu tập các nhà lãnh đạo Giáo hội Công giáo Ukraine đến Vatican vào tháng 7 tới để tham dự một cuộc họp ngoại thường về vấn đề này.
Tất cả điều này nói về một cuộc khủng hoảng chính trị và tôn giáo tương tự như cuộc khủng hoàng mà Đức Tổng Giám mục Roncalli đã chứng kiến trong thời gian ở Bulgaria.
Ở cấp độ chính trị, sự ủng hộ cho trật tự tự do và dân chủ đã sụp đổ cả ở cấp độ trong nước và quốc tế, chịu áp lực từ một hệ thống kinh tế và xã hội vốn đã tạo ra sự bất bình đẳng.
Ở cấp độ tôn giáo, đã có sự gia tăng của chủ nghĩa tân truyền thống, trào lưu chính thống, sự không khoan dung và bài ngoại với nỗ lực biện minh cho việc bảo vệ nguồn gốc Do Thái-Kitô giáo của phương Tây.
Sự tương đồng có thể được nhìn thấy trong tình hình chính trị quốc tế ngày nay và những năm 1920 và 1930.
Nhưng vị thế của Giáo hội Công giáo ngày nay không giống như hồi đó. Các nhà lãnh đạo của Giáo hội như Đức Roncalli đã học được những bài học quan trọng từ thời kỳ giữa chiến tranh và từ Thế chiến II vốn đã dẫn đến một sự thay đổi quan trọng so với suy nghĩ trước đó.
Đầu năm 1959, chỉ vài tháng sau khi được bầu làm Giáo Hoàng và lấy tước hiệu Gioan XXIII, Ngài đã công bố kế hoạch cho Công đồng Vatican II.
Nhờ có Công đồng đó và những Giáo huấn của Ngài trong 60 năm qua, Giáo hội Công giáo ngày nay đứng về phía chủ nghĩa quốc tế và chủ nghĩa đa phương và đồng thời chống lại chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa bài ngoại.
Giáo hội ngày nay ủng hộ các nền dân chủ lập hiến vốn tôn trọng nhân quyền và tự do tôn giáo cho tất cả mọi người – như chúng ta đã được nhắc nhở bởi tài liệu rất quan trọng mà Ủy ban Thần học Quốc tế đã công bố gần đây về chủ đề này.
Nhưng trong số những khác biệt phân biệt Giáo hội trong những năm 1920 – 1930 so với Giáo hội ngày nay cũng có sự chia rẽ ngày càng gia tăng.
Khi Đức Roncalli còn là một nhà ngoại giao của Đức Giáo Hoàng, Ngài đã phải chiến đấu chống lại chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa thực dân của các Dòng tu truyền giáo ở Bulgaria (đặc biệt là Ý và Pháp), cũng như những nỗ lực ảo tưởng để đưa Đông Âu trở lại với Công giáo.
ĐTC Phanxicô làm sống lại tầm nhìn tâm linh và chính trị của Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII
Hiện nay, ĐTC Phanxicô phải chiến đấu chống lại chủ nghĩa dân tộc trong một Giáo hội nơi mà quyền tự trị của giáo dân khiến cho việc trừng phạt các cử tri và lãnh đạo Công giáo vốn ôm chặt lấy chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa bài ngoại rõ ràng là không thể. Tuy nhiên, rõ ràng là cà Giáo triều và bộ máy Vatican ủng hộ ĐTC Phanxicô đã không giữ im lặng.
Một số sự kiện từ tháng Năm cung cấp một chìa khóa để hiểu tầm nhìn và cách giải thích của Đức Phanxicô về thời điểm hiện tại.
Trong một bài phát biểu quan trọng vào ngày 2 tháng 5 với các thành viên của Học viện Giáo hoàng về Khoa học Xã hội, Đức Thánh Cha đã bảo vệ khái niệm Công giáo về Nhà nước, bao gồm cả việc bác bỏ một cách rõ ràng đối với chủ nghĩa dân tộc.
Hai Tông du vào tháng Năm của ĐTC Phanxicô có mục đích gửi đi một thông điệp rõ ràng về vai trò mà Giáo hội được mời gọi ở Châu Âu, khác với những người Công giáo và các Kitô hữu khác đang nỗ lực thao túng thời điểm hiện tại để đạt được những lợi ích chính trị.
Đầu tiên, đó chính là chuyến viếng thăm vào ngày 5 tháng 5 tới Bulgaria và Bắc Macedonia. Sau đó, vào cuối tháng Năm và đầu tháng Sáu, sẽ có một chuyến viếng thăm đến Rumani, trong đó sẽ bao gồm một chuyến thăm đến một khu vực của đất nước là nơi sinh sống của một nhóm sắc tộc người Hungary lớn.
Nhưng Đức Thánh Cha Phanxicô không phải là tiếng nói duy nhất trong Giáo hội thể chế vốn công khai chống lại chủ nghĩa dân tộc.
Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh và các đoàn ngoại giao của Vatican, cũng như nhiều Dòng tu, vẫn là tiếng nói củamột sự tỉnh táo tại một thời điểm vốn đang chứng kiến sự hồi sinh của chủ nghĩa dân tộc nơi một số giới trí thức Công giáo, đặc biệt là tại Hoa Kỳ.
Đức Tổng Giám mục Jean-Claude Hollerich SJ Địa phận Luxembourg, Chủ tịch của Ủy ban Hội nghị Giám mục của Liên minh Châu Âu (COMECE), gần đây đã đưa ra một lập trường kiên quyết chống lại sự hồi sinh của chủ nghĩa dân tộc.
“Một Giáo hội Kitô giáo tự cho mình là điểm quy chiếu có nguy cơ chấp nhận sự từ chối thực tế này và đang gặp nguy hiểm trong việc tạo ra những động lực mà cuối cùng sẽ nuốt chửng Kitô giáo”, Đức Tổng Giám mục Jean-Claude Hollerich chia sẻ trong số mới nhất của tờ La civiltà Cattolica, tạp chí Dòng Tên do Vatican giám sát.
Đức TGM Hollerich, Chủ tịch của một tổ chức bao gồm các giám mục đến từ 28 quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu, cho biết: “Steve Bannon và Aleksandr Dugin là những linh mục theo chủ nghĩa dân túy vốn đã gợi lên một thế giới ngụy tôn giáo giả tạo, phủ nhận cốt lõi của thần học phương tây, đó là tình yêu đối với Thiên Chúa và tình yêu đối với những người thân cận”.
Bài báo của Đức TGM Hollerich là một trong những lập trường quan trọng nhất mà một vị đại diện của Giáo hội Công giáo đã đưa ra tại Liên minh Châu Âu trong nhiều thập kỷ.
Nó phù hợp với nỗ lực của Đức Thánh Cha Phanxicô để làm sống lại cái nhìn sáng suốt về tâm linh mà Đức Angelo Giuseppe Roncalli đã bày tỏ trong bài giảng Lễ Ngũ tuần nổi tiếng vào năm 1944 với tư cách là Đại diện Tông Tòa tại Thổ Nhĩ Kỳ trong Thế chiến II.
Những lời tiên tri từ năm 1944 là hợp thời hơn bao giờ hết
“Chúng ta muốn phân biệt mình với những người không tuyên xưng đức tin hoặc thực hành các truyền thống và các nghi thức phụng vụ của chúng ta: các chịnh em Chính Thống, Tin Lành, Do Thái, Hồi giáo, và các tín đồ của các tôn giáo khác hoặc những người không theo tín ngưỡng”, vị Giáo Hoàng tương lai bắt đầu.
“Anh chị em thân mến, tôi phải nói với anh chị em rằng dưới ánh sáng của Tin mừng và nguyên tắc Công giáo, luận lý này là sai lầm”, Đức Roncalli cảnh báo.
“Chúa Giêsu đã phá đổ các bức tường. Ngài đã chết để loan báo về tình huynh đệ phổ quát. Giáo lý cốt lõi của Ngài đó chính là tinh thần từ thiện bác ái”.
“Bạn có nghĩ rằng bạn có thể tự rào chắn phía sau cánh cửa của mình và nói” Tôi là người Công giáo, tôi nghĩ về bản thân mình và tôi không quan tâm đến việc người khác đang làm gì”?.
“Chúng ta được mời gọi để sống trong thời đại của sự hủy diệt và hận thù, khi mà chủ nghĩa vị kỷ cá nhân bị chế ngự bởi chủ nghĩa vị kỷ dân tộc, với những phương pháp tàn bạo đến mức chúng làm mất danh dự của loài người. Mỗi người trong chúng ta cần phải suy nghĩ về cách thức đóng góp cho công cuộc tái thiết luân lý của thế giới này”, Đức Roncalli nói.
Nó đã trở nên phổ biến khi nói rằng tình hình chính trị quốc tế có thể đang quay trở lại với một viễn cảnh tương tự như những năm 1930.
Cho dù điều này có đúng hay không, Triều đại Giáo Hoàng hiện tại đã cố gắng ngăn chặn Giáo hội khỏi việc lặp lại sai lầm của thời đại đó khi mà nỗi sợ đối với chủ nghĩa cộng sản và sự rối loạn xã hội đã đẩy hàng Giáo phẩm giáo hội vào vòng tay của các chế độ chính trị theo chủ nghĩa dân tộc, độc tài và phân biệt chủng tộc.
Đây chính là lý do tại sao sự phản đối cả Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII và ĐTC Phanxicô không chỉ là về mặt thần học, mà còn là về mặt chính trị. Vatican II tiếp tục trở thành kẻ thù của bất kỳ hình thức mới nào của chủ nghĩa dân tộc Công giáo, cả về mặt thần học và chính trị.
Có một nguy cơ của sự trở lại với “thế kỷ XIX kéo dài” vốn bắt đầu từ Cách mạng Pháp, mà trong đó Giáo huấn của Giáo hội đã từ chối thừa nhận tính chất hiện đại và tham gia vào thế giới thế tục. Đó chính là một sự tê liệt về thần học và tâm linh vốn phải trả cái giá rất lớn.
Như trường hợp trước đó, Giáo hội một lần nữa phải đưa ra sự lựa chọn hoặc là theo Tin Mừng hoặc là hệ tư tưởng hiện tại về trật tự chính trị, kinh tế và xã hội. Đó là một bài học mà vị Giáo Hoàng La Mã đã học hỏi được tốt hơn những người khác.
Minh Tuệ (theo La Croix)