
Đức Thượng phụ Công giáo nghi lễ Armenia Raphaël Bedros XXI Minassian và Đức Hồng y Peter Erdő, Tổng Giám mục Hungary, làm phép trung tâm Giáo xứ nghi lễ Armenia ở Budapest (Ảnh: Solène Tadié/ NCR)
BUDAPEST, Hungary – Trung tâm Giáo xứ nghi lễ Armenia ở Budapest, vốn vừa được cải tạo với kinh phí do chính phủ Hungary cấp, đã được khánh thành vào ngày 2 tháng 11, với sự hiện diện của Đức Thượng phụ Công giáo nghi lễ Armenia Raphaël Bedros XXI Minassian và Đức Hồng y Peter Erdő, Tổng Giám mục Hungary, người đã làm phép khánh thành cơ sở mới.
Phần được cải tạo của tòa nhà được dành để tổ chức các dự án giáo dục và văn hóa, cũng như các kho lưu trữ của cộng đồng Hungary-Armenia.
Sự kiện này cũng có sự tham dự của các quan chức Hungary, bao gồm Azbej Tristan, Bộ trưởng Ngoại giao Hungary về Hỗ trợ các Kitô bị bức hại và Chương trình Trợ giúp Hungary, cơ quan chính phủ đã tài trợ cho công việc trùng tu, với mục đích tạo động lực mới cho cộng đồng Armenia-Công giáo trong bối cảnh khó khăn của cuộc xung đột đang diễn ra giữa Armenia và Azerbaijan.
Bản thân mối quan hệ giữa Armenia và Hungary đã được đánh dấu bởi những căng thẳng trong những năm gần đây. Quan hệ ngoại giao giữa hai nước đã bị đình chỉ vào năm 2012, sau khi một sĩ quan người Azerbaijan bị tòa án Hungary kết án tù chung thân vì tội sát hại một sĩ quan người Armenia ở Budapest năm 2004 đã bị dẫn độ sang chính quyền Azerbaijan và ngay lập tức được ân xá.
Từ quan điểm ngoại giao, cử chỉ hữu nghị gần đây của chính phủ Hungary đối với cộng đồng người Armenia của họ được coi là một bước tiến mới trong quá trình hâm nóng quan hệ giữa hai quốc gia.
Trước khi làm phép trung tâm Giáo xứ mới, Đức Thượng phụ nghi lễ Armenia đã bày tỏ sự đánh giá cao đối với cơ hội này nhằm củng cố mối quan hệ giữa đất nước của ngài và Hungary, quốc gia đã trở lại cội nguồn Kitô giáo kể từ khi chế độ Xô Viết sụp đổ mà ngài ca ngợi.
Đức Thượng phụ Raphaël Bedros XXI Minassian, người được bầu chọn trong Thượng hội đồng của Giáo hội Công giáo Đông phương ở Rôma vào năm 2021, là Thượng phụ Công giáo thứ 21 của Tòa Thượng phụ Cilicia của các tín hữu Công giáo nghi lễ Armenia. Trước đó, ngài từng là Giám mục của các tín hữu Công giáo nghi lễ Armenia ở Đông Âu kể từ năm 2011. Tờ Register đã phỏng vấn Đức Thượng phụ Raphaël Bedros XXI Minassian bên lề sự kiện vào ngày 2 tháng 11.
Đức Thượng phụ đã có mặt tại Budapest để dự lễ khánh thành tòa nhà Giáo xứ nghi lễ Armenia mới được cải tạo, nhờ sự tài trợ của chính phủ Hungary. Đối với ngài, sự kiện này diễn tả điều gì trong mối quan hệ đầy biến động giữa đất nước của ngài và Hungary trong thập kỷ qua? Đức Thượng phụ mong đợi gì từ chuyến viếng thăm này?
Mối quan hệ giữa hai dân tộc này đã tồn tại hàng thế kỷ. Chúng tôi có nhiều dự án chung, đặc biệt là thông qua các tổ chức từ thiện. Việc tôi đến đây để dự lễ khánh thành trung tâm Giáo xứ của chúng tôi, nơi cũng minh họa nguồn gốc lịch sử của cộng đồng của chúng tôi ở Hungary, là để bày tỏ lòng biết ơn của tôi đối với đất nước này vì cử chỉ hữu nghị cao đẹp này đối với các tín hữu nghi lễ Armenia. Trong những năm gần đây, trước tình trạng bách hại các Kitô hữu do các cuộc chiến tranh khác nhau ở Trung Đông, cũng như ở Armenia, Hungary đã thể hiện tinh thần bác ái Kitô giáo thực sự trong việc giúp đỡ các tín hữu đang gặp khó khăn nghiêm trọng về xã hội, y tế và nhân đạo.
Do đó, đây là thời điểm để cảm ơn chính phủ này, vốn đã thực sự cống hiến rất nhiều, ngoài khía cạnh tài chính, còn ở khía cạnh đạo đức và biểu tượng. Đất nước này đã đóng vai trò là chứng nhân đích thực của Kitô giáo trong những năm gần đây, bất chấp sự đa dạng của các cộng đồng. Tin Mừng chính là mẫu số chung.
Có phải mẫu số chung đó đã đưa Armenia và Hungary xích lại gần nhau trong khối các quốc gia hiện nay?
Mối quan hệ giữa Hungary và Armenia được củng cố bởi lòng trung thành cụ thể với Kitô giáo. Nhưng có một phong trào quốc tế đang bắt đầu thức tỉnh và tái tập trung sự chú ý vào các anh chị em Kitô hữu đang phải chịu đau khổ của chúng ta. Ngoài sự trợ giúp tinh thần này từ Hungary, các tổ chức như L’Oeuvre d’Orient ở Pháp cũng đang làm điều tương tự.
Có một sự nhận thức rằng các Kitô hữu Đông phương đang gặp nguy hiểm và họ cần sự hỗ trợ này từ các Kitô hữu Tây phương. Giáo hội hoàn vũ đang bắt đầu xích lại gần nhau, đó quả là một sự phấn chấn.
Gần đây Đức Thượng phụ đã nhậm chức Thượng phụ Tòa Thượng phụ Cilicia của Giáo hội nghi lễ Armenia, trong bối cảnh đặc biệt nhạy cảm đối với đất nước của ngài. Ngài đánh giá thế nào về năm đầu tiên trong sứ mạng mới này? Đâu là những thách thức nghiêm trọng nhất? Những khó khăn ngay từ đầu đã quá rõ ràng. Giáo hội Công giáo Armenia là một Giáo hội nhỏ bé, với vài trăm nghìn tín hữu [khoảng 600.000, theo L’Oeuvre d’Orient]. Thật không may, chúng tôi đã trở thành nạn nhân của sự suy đồi luân lý của thế giới, của sự bất công quốc tế. Với tư cách là những người dân Armenia, chúng tôi đã phải hứng chịu một cuộc diệt chủng vào năm 1915 khiến đất nước chúng tôi vĩnh viễn lâm vào cản nghèo nàn.
Chúng tôi đã đặt hy vọng vào phản ứng toàn cầu trước sự xâm lược của người Azeri, nhưng hôm nay chúng tôi cảm thấy đơn độc. Và trên hết, chúng tôi đang bị giết hại bằng vũ khí của các nước thân thiện. Quả thực rất khó…
Ngoài chiến tranh, COVID còn thêm vào rất nhiều khó khăn vì chúng tôi phải đóng cửa các nhà thờ, và các mối quan hệ với các cộng đồng, họ hàng, cũng đã bị đình chỉ.
Nhưng giữa hoàn cảnh khó khăn này, chúng tôi vẫn được ơn kiên trì nhẫn nại, điều đã giúp chúng tôi tiếp tục tiến về phía trước bằng mọi giá, bất chấp mọi cuộc tấn công chống lại đất nước chúng tôi, vốn đang dấn thân vì hòa bình. Hôm nay tôi có thể nói rằng năm đầu tiên này không phải là không mang lại hiệu quả gì bởi vì ân sủng của Thiên Chúa đã thực sự làm công việc của nó và tuôn đổ ơn lành xuống trên các tín hữu và các cộng đồng của chúng tôi.
Sau thỏa thuận ngừng bắn năm 2020 ở Nagorno-Karabakh, Cha sở của Nhà thờ Tông Tòa Armenia ở Shushi, Linh mục Andreas Taadyan, đã tố cáo việc người Azeri tiếp tục phá hủy di sản Kitô giáo Armenia. Tình hình hiện nay thế nào?
Cá nhân tôi đã không có mặt tại nơi xảy ra cuộc xung đột trong những tháng gần đây, nhưng tôi có thể xác nhận từ thông tin tôi nhận được từ thực địa rằng có một sự táo bạo dám phá hủy các biểu tượng của nền văn hóa của chúng tôi, của tôn giáo Kitô giáo của chúng tôi. Có một sự căm ghét thực sự đối với những người Kitô hữu trong vkhu vực. Bất chấp hình ảnh nhân văn mà người Azeri miêu tả trên báo chí, đây là một thực tế.
Đức Thượng phụ có đồng ý với các nhà bình luận cho rằng có mong muốn, về phía Azerbaijan và Thổ Nhĩ Kỳ, đồng minh sắc tộc của họ, xóa bỏ sự hiện diện của các Kitô hữu Armenia khỏi khu vực, như vào năm 1915 không?
Đôi khi, ngôn từ, hình ảnh truyền tải có thể thay đổi nhưng nội dung vẫn được giữ nguyên. Chúng tôi hiểu mục tiêu chính xác, ước mơ của những người này bằng sự nhất quán trong tuyên bố và hành vi của họ. Về cơ bản, không có gì thay đổi; chúng tôi đang đối mặt với hiện tượng tương tự như năm 1915, mặc dù Armenia là một dân tộc tìm kiếm hòa bình và không có mục tiêu bành trướng.
Azerbaijan đã tấn công một số ngôi làng của Armenia vào ngày 13 đến 14 tháng 9, trong sự im lặng đáng kinh ngạc của nhiều phương tiện truyền thông và các nhà lãnh đạo chính trị phương Tây. Đức Thượng phụ đã nhiều lần tố cáo sự im lặng này.Ngài giải thích thế nào về sức ì quốc tế, hoặc thậm chí là sự thờ ơ, đối với những đau khổ của đất nước của ngài? Điều này có hoàn toàn là do vấn đề dầu khí hiện tại, vì Liên minh châu Âu đã quyết định nhập khẩu hydrocacbon của người Azeri để thay thế khí đốt của Nga trong tương lai?
Có rất nhiều vấn đề chính trị liên quan ở đây; có rất nhiều lợi ích đang bị đe dọa. Do đó, không một quốc gia hay cường quốc nào có bất kỳ sự quan tâm chú ý nào đối với người dân Armenia lúc này. Tôi thường trò chuyện với các nhà lãnh đạo chính trị. Tôi nói với họ những gì tôi phải nói, theo vai trò của tôi với tư cách là một giáo sĩ.
Có một số thế lực tấn công chúng tôi, xâm phạm biên giới của chúng tôi; mọi người đều biết chuyện gì đang xảy ra, và họ vẫn để chúng tiêu diệt chúng tôi.
Khi tôi chứng kiến sự bất công quốc tế này đang được thực hiện, và các Kitô hữu ở Armenia cũng như ở Trung Đông, ở châu Phi và ở châu Á, đang phải chịu đựng một sự thờ ơ hoàn toàn, tôi không thể tiếp tục giữ im lặng.
Tất cả điều này đang xảy ra khi, trên khắp thế giới, tất cả các nguyên tắc cơ bản đang được đặt vấn đề – tôn giáo, cảm giác thuộc về một quê hương tổ quốc, bản sắc… Mọi người không còn biết họ là ai, và đó là một phần quyết định của vấn đề.
Tình hình ở Nagorno-Karabakh lúc này như thế nào?
Những ngày này mọi thứ khá êm đềm. Nhưng mối nguy hiểm trên biên giới vẫn còn. Khi lợi ích của hai dân tộc [Azerbaijan và Thổ Nhĩ Kỳ] hội tụ, thì tự nhiên họ tạo thành một lực lượng duy nhất để đánh bại lực lượng thứ ba, vốn cản trở những lợi ích của họ. Họ sẽ không dừng lại ở đó.
Đức Thượng phụ muốn gửi thông điệp gì tới các nhà lãnh đạo của thế giới phương Tây?
Tôi muốn bảo họ hãy thức tỉnh. Hãy thực sự công bằng. Hãy đứng lên cho những người yếu thế, và trao cho họ một tiếng nói. Hãy trả lại công lý cho những ai bị từ chối.
Hãy nghĩ xa hơn các chiến thuật chính trị – hãy nghĩ đến những con người đang chịu đau khổ. Đây là những gì chúng tôi mong đợi, đặc biệt là từ Châu Âu, láng giềng của chúng tôi và chia sẻ cùng nguồn gốc Kitô giáo với chúng tôi.
Solène Tadié
** Solène Tadié là phóng viên Châu Âu của tờ National Catholic Register. Solène là người Pháp gốc Thụy Sĩ và lớn lên ở Paris. Sau khi tốt nghiệp Đại học Roma III với bằng báo chí, Solène bắt đầu đưa tin về Rome và Vatican cho tờ Aleteia. Solène tham gia L’Osservatore Romano vào năm 2015, nơi chị liên tiếp làm việc cho mảng tiếng Pháp và trang văn hóa của nhật báo tiếng Ý. Solène cũng đã cộng tác với một số tổ chức truyền thông Công giáo nói tiếng Pháp. Solène có bằng cử nhân triết học tại Đại học Giáo hoàng Thánh Tôma Aquinô và gần đây đã dịch cuốn ‘Bảo vệ thị trường tự do’ sang tiếng Pháp (cho tờ Editions Salvator) bởi Linh mục Robert Sirico của Acton Institute.
Minh Tuệ (theo NCR)