Đức Thánh Cha Lêô XIV kêu gọi "kiểm điểm lương tâm" về vấn đề di cư tại hải cảng thuộc quần đảo Canary

Tại Arguineguín, nơi từng được gọi là “bến cảng của sự hổ thẹn”, Đức Thánh Cha lên án những kẻ buôn người và khẳng định rằng phẩm giá con người “không có hộ chiếu”.

Đức Thánh Cha Lêô XIV tưởng nhớ những người di cư thiệt mạng trên biển trong một buổi lễ tại cảng Arguineguín thuộc quần đảo Canary của Tây Ban Nha vào ngày 11 tháng 6 năm 2026 (Ảnh: Daniel Ibáñez/ EWTN News)

Đức Thánh Cha Lêô XIV tưởng nhớ những người di cư thiệt mạng trên biển trong một nghi thức tại cảng Arguineguín thuộc quần đảo Canary của Tây Ban Nha vào ngày 11 tháng 6 năm 2026 (Ảnh: Daniel Ibáñez/ EWTN News)

Hôm thứ Năm, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã kêu gọi “tự vấn lương tâm” về vấn đề di cư trong chuyến thăm cảng Arguineguín thuộc quần đảo Canary của Tây Ban Nha, một địa điểm từng trở thành biểu tượng cho sự sụp đổ của công tác quản lý di cư vào năm 2020.

Cảng đánh cá nhỏ nằm ở bờ tây nam đảo Gran Canaria này từng bị gọi là “bến cảng của sự hổ thẹn” sau khi hơn 2.600 người di cư phải chen chúc ngoài trời suốt nhiều tuần lễ cách đây6 năm. Nhiều người phải ngủ trên nền bê tông gồ ghề sau khi vượt Đại Tây Dương bằng những chiếc thuyền mong manh từ Mauritania, Senegal, Gambia, Morocco và các vùng thuộc sa mạc Sahara.

Vào ngày 11 tháng 6, Đức Thánh Cha Lêô đã biến nơi đây thành điều mà nhiều người hiện diện mô tả là một bến cảng của hy vọng.

“Việc chỉ quản lý các đợt người đến đây, phân bổ các con số, tăng cường biên giới hay thương tiếc những người đã chết sau khi họ qua đời là chưa đủ”, Đức Thánh Cha nói.

Phẩm giá con người, Đức Thánh Cha khẳng định, “đòi hỏi những con đường hợp pháp và an toàn, công tác cứu hộ và hỗ trợ, sự hợp tác thực sự chống lại những kẻ buôn người, sự bảo vệ hữu hiệu cho các nạn nhân, các quy trình tiếp nhận và hòa nhập nghiêm túc, và các chính sách cho phép mỗi người sống một cách có phẩm giá trên chính mảnh đất của mình”.

Quần đảo Canary là chặng dừng chân cuối cùng trong chuyến Tông du Tây Ban Nha của Đức Thánh Cha Lêô XIV và cũng là một trong những khoảnh khắc mang ý nghĩa biểu tượng nhất. Vấn đề di cư vẫn là một vết thương nhức nhối của châu Âu và thế giới, và Arguineguín từ lâu đã được xem là một trong những vết sẹo dễ thấy nhất của vấn đề này.

“Thảm kịch này phải trở thành một cuộc xét mình”, Đức Thánh Cha nhấn mạnh.

Đức Thánh Cha Lêô hướng lời kêu gọi của mình đến nhiều đối tượng khác nhau. Ngài nói rằng các quốc gia xuất xứ “phải tạo ra những điều kiện về hòa bình, công lý và sự phát triển”. Các quốc gia quá cảnh, theo ngài, “không được bỏ mặc những người yếu thế rơi vào tay các mạng lưới tội phạm”.

Ngài cũng trực tiếp nhắc đến châu Âu, khẳng định rằng lục địa này “không thể vừa tuyên bố phẩm giá con người vừa quen dần với việc Địa Trung Hải và Đại Tây Dương trở thành những nghĩa trang không bia mộ”. Theo ngài, cộng đồng quốc tế được mời gọi thực hiện “sự hợp tác hữu hiệu và bền bỉ”.

Chính Giáo hội, Đức Thánh Cha nói, “cũng cần phải tự chất vấn chính mình”. Ngài nhấn mạnh: “Việc đón tiếp người di cư không thể là điều thứ yếu hay chỉ được giao phó cho một số ít tình nguyện viên”.

Đồng thời, Đức Thánh Cha Lêô gửi một thông điệp trực tiếp tới các tín hữu Công giáo.

“Chúng ta quỳ trước bàn thờ để thờ lạy Chúa Kitô hiện diện trong Bí tích Thánh Thể, từ đó lãnh nhận sức mạnh và lý do để sống bác ái”, ngài nói. “Vì thế, chúng ta không thể ‘bước ngang qua’ những chiếc thuyền cayuco và patera, bởi mọi hoạt động phục vụ đều phát xuất từ cầu nguyện và cũng trở về với việc cầu nguyện”.

Đức Thánh Cha nhắc đến các nhân vật trong Kinh Thánh là Leviathan và Rahab để mô tả những “quái vật đang rình rập trên các vùng biển này: những băng nhóm tội phạm buôn bán trên nỗi tuyệt vọng, những kẻ buôn người biến phụ nữ và trẻ em thành nô lệ, và sự thờ ơ của nhiều người khiến người nghèo bị nuốt chửng bởi sự bóc lột hoặc sự lãng quên”.

Tuy nhiên, ngài nói, đức tin “không tê liệt trước sức mạnh của biển cả”.

“Chúng ta tin vào một Thiên Chúa, Đấng chế ngự sự hỗn mang, đặt giới hạn cho sự dữ và mở ra con đường khi sự chết dường như đang chiến thắng”, Đức Thánh Cha Lêô nói.

Ở nơi Đức Kitô “ra lệnh cho biển cả phải im lặng”, ngài nói thêm, “Giáo hội cũng không thể im lặng trước những người bị bỏ mặc giữa dòng nước”.

Đức Thánh Cha cho biết sự hoán cải bắt đầu khi “người di cư không còn chỉ là một người bình thường nữa, không còn là một phạm trù hay một con số”.

Chuyến viếng thăm quần đảo Canary là điều mà Đức cố Giáo hoàng Phanxicô từng mong mỏi thực hiện nhưng không thể hoàn thành. Đức Thánh Cha Lêô đã chuyển tải một thông điệp tương tự như điều Đức Phanxicô đã mang đến đảo Lampedusa vào năm 2013. Đức Thánh Cha Lêô cũng dự kiến sẽ thăm hòn đảo này của Ý vào ngày 4 tháng 7, đúng dịp Hoa Kỳ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc.

“Chúng ta không thể quen dần với việc đếm số người chết”, Đức Thánh Cha Lêô nói. “Phẩm giá con người không có hộ chiếu và không mất đi giá trị khi vượt qua biên giới”.

Trong bài phát biểu nhiều lần bị gián đoạn bởi những tràng pháo tay, Đức Thánh Cha mong rằng lịch sử “sẽ không phải lên án chúng ta vì đã biến nỗi đau của những người đau khổ thành khung cảnh quen thuộc nơi các bờ biển của chúng ta”.

Trước khi phát biểu, Đức Thánh Cha Lêô đã lắng nghe nhiều chứng từ từ những người trực tiếp gắn bó với cuộc khủng hoảng di cư.

Ông Tito Villarmea, thuyền trưởng tàu cứu hộ Urania, cho biết rằng trong 18 năm qua ông đã tham gia cứu hơn 20.000 người — “một con số khiến người ta đau lòng và không thể quên được”.

Mặc dù số người nhập cư bất hợp pháp bằng đường biển đã giảm mạnh trong năm nay — giảm khoảng 35% so với năm trước — các chiến dịch cứu hộ vẫn tiếp diễn, nhiều cuộc di cư diễn ra trong điều kiện vô cùng khắc nghiệt. Theo Bộ Nội vụ Tây Ban Nha, từ ngày 1 tháng 1 đến ngày 31 tháng 5, có 10.224 người nhập cư bất hợp pháp đến Tây Ban Nha, giảm 35,2% so với 15.769 người cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, số người vượt biên bằng đường bộ vào Ceuta và Melilla tăng 210%, lên tới 2.366 người.

Ông Villarmea kể lại một cuộc cứu hộ liên quan đến một người mẹ đi cùng với đứa con của chị trên chiếc thuyền nhỏ, xung quanh là những người bị thương và các thi thể.

“Khi đã an toàn trên tàu, người phụ nữ tiến lại gần đứa trẻ khoảng 14 tuổi, tháo chiếc mũ và áo khoác của em rồi lấy ra đôi bông tai bằng vàng để đeo vào”, ông kể. “Đó là một bé gái. Cô bé khóc và tôi cũng khóc, vì tôi là cha của hai đứa con tuổi thiếu niên”.

Bà María Reyes Alemán, một thiện nguyện viên của Caritas, cũng phát biểu trước Đức Thánh Cha, mô tả công việc của bà trong việc đồng hành cùng những người di cư giữa cuộc khủng hoảng nhân đạo.

“Chúng con học được rằng điều quan trọng không phải là giải quyết mọi thứ, mà là hiện diện”, bà nói, giải thích rằng những cử chỉ nhỏ như một nụ cười hay một ánh mắt cũng có thể truyền tải niềm hy vọng.

Một chứng từ đầy xúc động khác đến từ Blessing, một phụ nữ Nigeria và là nạn nhân của nạn buôn người, người không có mặt vì lý do an ninh. Trong lá thư được đọc công khai, chịkể lại việc rời Nigeria vào năm 22 tuổi, để lại hai con gái ở quê nhà. Khi đến lúc vượt biển, chị Blessing đã chứng kiến những người khởi hành trước nhóm mình cùng ngày hôm đó bị chết đuối.

“Bọn buôn người đưa tôi đến một nơi và thực hiện một nghi thức gọi là ‘juju’”, chị kể. “Chúng nói rằng tôi mắc khoản nợ 25.000 euro và phải trả hoản nợ đó khi đến châu Âu”.

Trong 6 tháng bị giam cầm, chị Blessing mang thai với một người đàn ông liên quan đến mạng lưới buôn người.

“Khi tôi đến Tây Ban Nha, bọn chúng đã cướp mất đứa con của tôi để ép tôi hành nghề mại dâm”, chị kể. Tình trạng nô lệ cưỡng bức ấy chỉ chấm dứt khi con trai của chị được 11 tháng tuổi và cảnh sát bắt giữ những kẻ giam cầm chị. Chị Blessing cho biết chính Giáo hội đã giúp chị xây dựng lại cuộc đời của mình.

Đức Thánh Cha Lêô cũng cảnh báo những người di cư như chị Blessing đừng tin vào những kẻ lợi dụng khát vọng về một tương lai tốt đẹp hơn.

“Đừng tin những kẻ hứa hẹn một thiên đường dễ dàng để đổi lấy thân xác, tiền bạc, sự im lặng hoặc tự do của các bạn”, ngài nói.

Những lời hứa giả dối đó, Đức Thánh Cha nói, là “những lời dụ dỗ mê hoặc” và là “những ngành công nghiệp của sự chết”.

Đức Thánh Cha cũng nhắc đến đảo El Hierro, hòn đảo ít dân nhất trong quần đảo Canary nhưng đã trở thành một trong những điểm đến chính của những người di cư, với hơn 50.000 người nhập cư bất hợp pháp đến đây từ năm 2020. Đỉnh điểm là năm 2024 với gần 30.000 người.

Cách thức chính quyền xử lý tình hình trên đảo đã gây nên sự bất bình nơi các nhà lãnh đạo địa phương, trong đó có ông Alpidio Armas, Chủ tịch Hội đồng của hòn đảo thuộc Đảng Xã hội, người đã không tham dự các sự kiện của Đức Thánh Cha.

Đức Thánh Cha Lêô nói rằng El Hierro “đã chứng kiến hàng ngàn người cập bến, bị nhổ bật khỏi quê hương và phó mặc cho sự mong manh của những chiếc thuyền cayuco”.

Tại đó, Đức Thánh Cha nói, “có những người được vớt từ biển lên và cũng có những thi thể được đưa lên từ lòng nước”. Vì thế, “Đấng kế vị Thánh Phêrô không thể ngoảnh mặt trước những bến cảng này”.

Sự kiện kết thúc bằng nghi thức đặt hoa tưởng niệm các nạn nhân thiệt mạng trên biển trong hành trình di cư, một cử chỉ mang tính biểu tượng tại nơi đã trở thành dấu chỉ của sự đau khổ nhưng cũng là của tình liên đới.

Sau đó, Đức Thánh Cha Lêô IV tiến đến bên tượng Đức Mẹ Núi Camêlô, bổn mạng của những người đi biển, và làm phép một cây Thánh giá được dựng lên như một đài tưởng niệm vĩnh viễn dành cho những người đã không bao giờ đến được đích đến của mình.

Minh Tuệ (theo EWTN)

Bài liên quan

Bài mới

Facebook

Youtube

Liên kết