Vào ngày 24 tháng 5 năm 1844, nhà phát minh Samuel Morse đã truyền đi thông điệp đầu qua hệ thống điện báo điện từ. Những tín hiệu chấm và gạch chạy dọc theo đường dây đồng nối liền Washington với Baltimore. Sự lựa chọn từ ngữ của ông thật ấn tượng, vừa đầy sức gợi mở lại vừa mang giá trị trường tồn: “Thiên Chúa đã làm nên những gì?”.
Khoảng 179 năm sau, khi một đồng nghiệp lần đầu tiên giới thiệu ChatGPT trong một cuộc họp của khoa, tôi nghĩ mình cũng đã lẩm bẩm những lời tương tự.
Đối với những người có niềm tin tôn giáo, những bước đột phá công nghệ gây kinh ngạc — từ bánh xe, máy in cho đến động cơ hơi nước — tự nhiên gợi lên ý niệm về sự can thiệp củaThiên Chúa. Chúng báo hiệu một thế giới đang biến đổi một cách mạnh mẽ và có thể không thể đảo ngược. Chúng có thể khiến chúng ta hoang mang bối rối, đồng thời đan xen giữa nỗi lo âu và tràn đầy hy vọng.
Chúng ta đang sống trong một thời đại như thế.
Từ buổi bình minh của Internet vào những năm 1990, đến sự xuất hiện của mạng xã hội một thập niên sau đó, cho đến những biến chuyển do trí tuệ nhân tạo (AI) mang lại ngày nay, sự thay đổi trong thế giới kỹ thuật số dường như là hằng số duy nhất của xã hội. Chúng ta định hình những công cụ công nghệ ấy, và đến lượt chúng, chúng cũng định hình lại chúng ta. Và chúng ta sẽ tin theo một cách khác vì những công nghệ đó: một cuộc cách mạng của cả tư duy lẫn tinh thần.
Cũng như Kitô giáo thuở sơ khai từng được định hình bởi các đặc tính của phương thức truyền thông truyền miệng và sau đó là sự phát triển của chữ viết, thì ngày nay, diện mạo của đức tin cũng sẽ được nhào nặn bởi các điều kiện và giá trị của kỷ nguyên kỹ thuật số. Mối tương quan của chúng ta với tha nhân — kết cấu xã hội thổi hồn vào các chiều kích thần học — vẫn có thể phát triển mạnh mẽ trong những không gian đó nếu chúng ta tiếp cận chúng một cách thận trọng và có chủ đích.
Xuyên suốt các bài viết trong số này là những cách gọi khác nhau cho cùng một thách đố cốt lõi của đời sống trực tuyến: việc định hướng giữa thế giới thực và ảo, giữa chiều sâu và sự hời hợt, cũng như giữa điều chân thực và điều giả trá.
AI là đỉnh cao của của xu hướng đó. Những hệ thống như vậy tìm cách đọc, tư duy, giao tiếp, cảm nhận và tương tác thay cho con người. Giáo hội Công giáo sẽ phải là tiếng nói khẳng định ý nghĩa và phẩm giá thay cho nhân loại trước sự xâm nhập của AI — một thực thể, mà xét về bản chất, không có linh hồn.
Do đó, thế giới kỹ thuật số này đặt chúng ta trước một bối cảnh mới cho một câu hỏi vốn luôn mang tính thời đại: Nếu Thiên Chúa đã tạo nên điều này, thì giờ đây việc trở thành con người có nghĩa gì? Và làm thế nào chúng ta có thể tìm thấy Thiên Chúa ở trong đó?
Sẽ chẳng có gì đáng trách nếu ai đó cảm thấy không mấy hy vọng trước viễn cảnh về “nhân loại trong kỷ nguyên kỹ thuật số”. Đối với nhiều người, đó là một sự mâu thuẫn về thuật ngữ. Chỉ cần nhìn sâu vào bất kỳ vấn nạn xã hội nào hiện nay — từ sự chia rẽ, phân cực, cho đến cảm giác xa cách, lạc long — chúng ta đều thấy công nghệ dường như là một trong những nguyên nhân góp phần gây ra tình trạng đó.
Điện thoại thông minh được thiết kế để gây nghiện; các thuật toán được lập trình nhằm khuyến khích những thái cực cảm xúc. Hãy thử hình dung về một thế hệ người trẻ dễ bị tổn thương, những người đã trở thành đối tượng thử nghiệm cho các tập đoàn hùng mạnh, giàu có với tư duy “hành động nhanh và phá vỡ mọi quy tắc” — và quả thực, họ đã phá vỡ rất nhiều thứ.
Mạng xã hội tràn ngập những lượt thích — tình cảm của con người được đo lường một cách hời hợt như một loại tiền tệ của những người có ảnh hưởng — nhưng tình yêu Kitô giáo, Agape thì sao? Ít hơn nhiều.
Trong các cuộc khảo sát dư luận, AI vẫn luôn không được ưa chuộng. Điều đó là bởi vì AI không chỉ đe dọa tự động hóa và khiến vô số loại hình lao động biến mất. Máy móc đã làm điều đó suốt hàng trăm năm nay. AI đe dọa lấn át những thói quen của tâm hồn vốn từ lâu đã hình thành nền tảng cho tình bằng hữu, cảm xúc và đức tin.
Khi đại dịch ập đến, và việc “giãn cách xã hội” càng khiến nhân loại bị phân tán thành những cá thể riêng rẽ, những cuộc đời vốn được trải nghiệm trong không gian ba chiều bỗng trở nên thiếu chiều sâu khi bị gói gọn trong các phòng họp Zoom. Thế nhưng, nếu những lời trong Mt 18,20 là đúng, khi “có hai hoặc ba người tự họp lại nhân danh Chúa Giêsu, thì có Thầy ở đấy, giữa họ”, thì thật tạ ơn Chúa vì đường truyền Wi-Fi ổn định!
Đó là lý do những người bi quan về công nghệ chỉ đúng một nửa.
“Nhân loại trong kỷ nguyên kỹ thuật số” chắc chắn có thể là một cách nói mang hàm ý mỉa mai— xét đến vô số những bằng chứng đã được nêu ở trên cho thấy công nghệ đang làm suy giảm khả năng trở thành những con người trọn vẹn, hiện diện và biết cảm thông trước mặt Thiên Chúa. Tuy nhiên, như nhiều bài viết trong số này cũng cho thấy, công nghệ đồng thời có thể làm rỗng tuếch tiềm năng của chúng ta với tư cách là con người.
Dường như Đức Thánh Cha Lêô XIV đặc biệt nhạy bén trước những hứa hẹn cũng như những nguy cơ của tương lai đang đến rất nhanh này. Dù không phải là một người lớn lên cùng thời đại kỹ thuật số, nhưng Đức Robert Prevost khi ấy được cho là đã thiết kế trang web đầu tiên cho Dòng Augustinô của mình vào đầu những năm 2000. Quan trọng hơn nữa là việc ngài chọn Tông hiệu của mình: một sự tri ân đối với Đức Lêô XIII, vị Giáo hoàng đã chèo lái Giáo hội vượt qua giai đoạn đầy biến động sau cuộc Cách mạng Công nghiệp, qua đó đặt nền móng cho những nguyên tắc cốt lõi trong Học thuyết xã hội Công giáo.
Cũng như máy móc hạng nặng đã biến đổi và sắp xếp lại thế giới những năm 1800, các công nghệ kỹ thuật số dường như đang chuẩn bị làm đảo lộn thế kỷ của chúng ta (và thực tế là chúng đã và đang gây ra những tác động sâu rộng). Và cũng giống như những nhà máy mang dáng dấp thời Dickens ngày xưa, phẩm giá và tính nhân bản của người lao động cần phải là mối bận tâm hàng đầu của Kitô giáo.
Chúng ta thường không nhìn thấy những công sức lao động ấy — chẳng hạn như khai thác đất hiếm hay kiểm duyệt những nội dung gây sốc — ẩn sau vẻ ngoài bóng bẩy của màn hình điện thoại thông minh. Thế nhưng, thế giới kỹ thuật số của chúng ta không thể vận hành nếu thiếu chúng, hay nếu thiếu những con người làm ra chúng. Tôi tin rằng Đức Thánh Cha Lêô sẽ luôn ghi nhớ điều đó — cả trong tâm trí lẫn trong trái tim mình.
Thông điệp Magnifica humanitas của ngài, được công bố vào mùa hè vừa qua, là một minh chứng cho điều đó. Tinh thần bảo vệ mang tính mục vụ được đan xen xuyên suốt văn kiện: lời kêu gọi thiết lập các biện pháp bảo vệ trước những mối đe dọa mà AI gây ra đối với người lao động, trẻ em và những người đang tìm kiếm hòa bình trên thế giới. Và trong thời điểm tình trạng thất nghiệp lan tràn đang được dự báo một cách đáng lo ngại, văn kiện nhấn mạnh rằng lao động không chỉ là phương tiện để kiếm thu nhập, mà còn là phương tiện để tìm thấy ý nghĩa và giá trị của bản thân.
Và không chỉ người lao động mới cảm thấy bất an. Khi AI ngày càng trở nên phổ biến và được xem như điều bình thường, chúng ta cũng đang đứng trước ngưỡng cửa của một sự thay đổi văn hóa sâu rộng. Các mối tương quan hiện nay có vẻ thiếu chân thực có thể sẽ không còn bị xem là đáng lên án trong tương lai gần — nếu Thung lũng Silicon đạt được mục đích của mình. Thật vậy, một phần những gì các công ty công nghệ tìm cách mô phỏng chính là các mối tương quan được xây dựng trên đức tin: nền tảng bền vững nhất.
Khi ngày càng có nhiều người tìm đến các chatbot để tìm kiếm tình bạn, trị liệu tâm lý, chuyện tình cảm yêu đương, và thậm chí là tái hiện hình ảnh người thân đã khuất bằng công nghệ deepfake, sẽ xuất hiện ngày càng nhiều lời kêu gọi công nhận “tư cách con người” cho những thực thể mà xét cho cùng, chỉ là các thuật toán toán học phức tạp.
Giáo hội Công giáo khẳng định phẩm giá nền tảng của mọi con người. Nếu chúng ta bước vào thời đại AGI (tức trí tuệ nhân tạo tổng quát), các mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) sẽ khiến nhiều người bị cuốn hút bởi ý tưởng đưa chúng vào phạm trù của ý thức. Nhưng LLM về bản chất là thứ phái sinh — trong khi con người được tạo dựng (và có khả năng sáng tạo) theo hình ảnh Thiên Chúa.
“Chúng ta được sinh ra như những bản gốc, nhưng nhiều người trong chúng ta chết đi như những bản sao”, Thánh Carlo Acutis, vị Thánh thuộc thế hệ Gen Y, đã khéo léo than phiền về thói chạy theo khuôn mẫu trên mạng xã hội. Khát vọng thôi thúc con người tìm đến thế giới trực tuyến — và không phải ngẫu nhiên — cũng chính là niềm khao khát đưa họ đến với đức tin: đó là mong muốn tìm kiếm sự chân thực.
Chúng ta tìm kiếm nơi đời sống tâm linh đích thực điều mà thế giới hiện đại—vốn bị chi phối bởi các phương tiện trung gian—thường không mang lại: sự toàn vẹn của con người đích thực. Thế nhưng, theo lý tưởng của Dòng Tên về việc “gặp gỡ con người tại nơi họ đang hiện diện”, thông điệp Kitô giáo phải đi vào thế giới ấy và thích nghi với những điều kiện bất toàn của nó. Từ hình ảnh Đức Tổng Giám mục Fulton Sheen chinh phục khán giả trên sóng truyền hình, Đức cố Giáo hoàng Phanxicô phá vỡ các kỷ lục trên Instagram, cho đến Trung tâm C21 bền bỉ lan tỏa tinh thần cầu nguyện qua nền tảng Zoom— từ tuần này qua tuần khác—đều là những minh chứng sống động cho di sản này.
Bởi nếu không có truyền thông, sẽ không thể có cộng đoàn. Và đối với nhiều người không phải lúc nào cũng có thể tìm thấy cộng đoàn ấy trong đời sống “thực tại” — chẳng hạn những người Công giáo LGBT được Cha James Martin, S.J., chào đón — thì không gian trực tuyến ấy có ý nghĩa thiết yếu, có hồn và, nói thẳng ra, là thực.
Internet là nơi có vô số cơ sở dữ liệu về các phép lạ, những video TikTok về các chuyến tham quan các Nhà thờ Chính tòa, các podcast về Kinh Thánh và vô vàn ứng dụng cầu nguyện. Tìm kiếm Thiên Chúa trong mọi sự cũng có nghĩa là tìm thấy Thiên Chúa ở đó.
Sau cùng, đối với tôi, việc tìm kiếm Thiên Chúa chỉ là một sự thao luyện về sự tập trung. Điều quan trọng cần ghi nhớ là chính các ngành công nghiệp kỹ thuật số này luôn tìm cách chiếm lấy sự chú ý của chúng ta hơn bất cứ điều gì khác. Nhãn cầu của chúng ta—và kéo theo đó là tâm trí chúng ta—chính là nền tảng cho các ngành công nghiệp trị giá hàng tỷ đô la của họ.
Vì thế, sống tỉnh thức là một hành vi đi ngược văn hóa của họ. Và việc quan tâm đến người khác trong cuộc sống—thực hành một đức tin đặt nền trên các mối tương quan —cũng là một điều đi ngược lại với dòng chảy văn hóa đương thời.
Theo một nghĩa nào đó, một trong những phần tôi yêu thích nhất trong Thánh lễ chính là sự thinh lặng trước Thánh lễ. Đó chính là khoảnh khắc hồi tâm lánh xa công nghệ — một cuộc thanh lọc tâm hồn khỏi thế giới số trong ngắn hạn, giúp chúng ta tách mình khỏi vô số những yếu tố gây xao nhãng trên điện thoại, cả những thứ đã qua và cả những thứ đang chực chờ phía trước. Có lẽ, điều chúng ta cần nhất từ những công nghệ mới đầy choáng ngợp này lại chính là thời gian và không gian để suy tư—mà ở đó, ta tạm rời xa chính những công nghệ ấy.
Như tôi thường nói với các sinh viên của mình, món quà lớn nhất mà bạn có thể trao cho một người mình yêu thương chính là sự chú ý của bạn. Thiên Chúa cũng đã dành tặng điều đó cho chúng ta.
Michael Serazio
*** Biên tập viên khách mời Michael Serazio là Giáo sư kiêm Trưởng Khoa Truyền thông tại Đại học Boston, chuyên nghiên cứu về lĩnh vực sản xuất truyền thông. Bên cạnh những cuốn sách trước đây về quảng cáo và văn hóa thể thao, ông là tác giả của ấn phẩm mới nhất mang tên The Authenticity Industries: Keeping It “Real” in Media, Culture, and Politics, do Stanford University Press xuất bản năm 2023. Từng là nhà báo, ông đã viết các bài tiểu luận chuyên sâu trên các ấn phẩm uy tín như The New York Times, The Washington Post, The Atlantic và nhiều tờ báo khác.
Minh Tuệ (theo C21)
