Các nhà lãnh đạo Công giáo và Chính Thống giáo: "Công đồng Nicea góp phần củng cố sự hiệp nhất Kitô giáo"

Công đồng Nicaea năm 325 được mô tả trong bức bích họa ở Salone Sistino tại Vatican | Ảnh: Giovanni Guerra (1544-1618), Cesare Nebbia (1534-1614) e aiuti, Public domain, via Wikimedia Commons

Công đồng Nicaea năm 325 được mô tả trong bức bích họa ở Salone Sistino tại Vatican | Ảnh: Giovanni Guerra (1544-1618), Cesare Nebbia (1534-1614) e aiuti, Public domain, via Wikimedia Commons

Đức Hồng y Kurt Koch và Đức Thượng phụ Đại kết Bartholomew I của Constantinople thuộc Giáo Chính Thống giáo Đông phương, đã phát biểu tại lễ kỷ niệm 1.700 năm Công đồng Nicea, được cử hành vào năm 2025, trong khuôn khổ Hội nghị Rimini diễn ra từ ngày 22 đến 27 tháng 8.

Trong bài phát biểu của mình, Đức Hồng y Koch, Tổng trưởng Bộ Cổ võ Sự hiệp nhất Kitô Giáo, đã nhấn mạnh tầm quan trọng của những vấn đề tín lý mà Công đồng đã đề cập.

“Qua đó, các Nghị phụ đã tuyên xưng đức tin của mình vào ‘một Thiên Chúa là Cha toàn năng, Đấng tạo thành muôn vật hữu hình và vô hình’… Và trong lá thư của Thượng Hội đồng gửi đến các tín hữu Ai Cập, các Nghị phụ công bố rằng đối tượng nghiên cứu đầu tiên chính là việc Arius và các môn đệ của ông đã trở thành kẻ thù của đức tin và chống lại lề luật, vì thế các Nghị phụ đã ‘quyết định nhất trí kết án với vạ tuyệt thông đối với học thuyết trái nghịch đức tin của ông, những phát biểu và mô tả hồ đồ của ông mà ông đã dùng để xúc phạm đến Con Thiên Chúa’”, Đức Hồng y Koch lưu ý.

“Những tuyên bố này”, ngài nói thêm, “xác định bối cảnh của Kinh Tin Kính được Công đồng soạn thảo, qua đó tuyên xưng đức tin vào Chúa Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa, ‘đồng bản thể với Chúa Cha’. Bối cảnh lịch sử khi ấy là một cuộc tranh luận dữ dội bùng nổ trong Kitô giáo, đặc biệt tại vùng phía Đông của Đế quốc Rôma; vì thế, ngay từ đầu thế kỷ IV, vấn đề Kitô học đã trở thành điểm then chốt của độc thần luận Kitô giáo”.

Đức Hồng y Koch nhấn mạnh rằng Công đồng Nicea đã đặt lời cầu nguyện của Chúa Giêsu dâng lên Chúa Cha làm trọng tâm của lời tuyên xưng đức tin, và ngài cũng cho biết thêm: “Kinh Tin Kính của Công đồng đã trở thành nền tảng của đức tin Kitô giáo chung. Công đồng có tầm quan trọng đặc biệt, nhất là vì nó diễn ra vào thời điểm mà Kitô giáo chưa bị chia rẽ bởi nhiều ly giáo sẽ xuất hiện sau này. Kinh Tin Kính Nicea không chỉ phổ biến trong các Giáo hội Đông phương, các Giáo hội Chính Thống và Giáo hội Công giáo, mà còn phổ biến trong cả các cộng đoàn Giáo hội được hình thành từ Phong trào Cải cách; do đó, tầm quan trọng đại kết của nó không thể bị xem nhẹ”.

“Chỉ bằng cách này, sự hiệp nhất trong Giáo hội mới có thể đạt được, Đức Hồng y Koch tiếp tục. “Thật vậy, để khôi phục sự hiệp nhất của Giáo hội, cần phải có sự đồng thuận về những nội dung cốt yếu của đức tin, không chỉ giữa các Giáo hội và các cộng đoàn Giáo hội ngày nay, mà còn với Giáo hội trong quá khứ, đặc biệt với nguồn gốc Tông truyền của Giáo hội. Sự hiệp nhất của Giáo hội được xây dựng trên đức tin Tông truyền, vốn được trao ban cho mỗi thành viên mới của Thân Thể Chúa Kitô trong Bí tích Rửa tội”.

Ngài nhấn mạnh thêm: “Bởi vì sự hiệp nhất chỉ có thể tìm thấy nơi đức tin chung, nên lời tuyên xưng về Chúa Kitô của Công đồng Nicaea được coi là nền tảng của tinh thần đại kết”.

“Phong trào đại kết”, Đức Hồng y Koch nhận định, “ngay từ đầu vốn đã là một phong trào cầu nguyện. Chính lời cầu nguyện cho sự hiệp nhất Kitô giáo đã mở đường cho phong trào này. Trọng tâm của lời cầu nguyện nhấn mạnh rằng cam kết đại kết, trước hết, là một nhiệm vụ thiêng liêng, được thực hiện với xác tín rằng Chúa Thánh Thần sẽ hoàn tất công trình Ngài đã khởi sự và chỉ cho chúng ta con đường phải đi”.

Đức Hồng y Koch khẳng định rằng tiến trình đại kết chỉ có thể tiến triển “nếu các Kitô hữu cùng nhau trở về với cội nguồn đức tin, vốn chỉ tìm thấy nơi Chúa Giêsu Kitô, như các Nghị phụ của Công đồng Nicea đã tuyên xưng… Đại kết Kitô giáo không thể là gì khác ngoài việc mọi Kitô hữu tuân theo lời cầu nguyện tư tế của Chúa Giêsu, và điều này trở nên hiện thực khi các Kitô hữu tực sự khao khát tinh thần hiệp nhất”.

Tầm quan trọng của Công đồng Nicea cũng được Đức Thượng phụ Bartholomew nhấn mạnh khi ngài khẳng định: “Rõ ràng là Công đồng này đã và vẫn tiếp tục giữ vai trò tiên quyết trong việc trung thành tuyệt đối với Thánh Kinh, và Giáo hội Chính Thống vẫn kiên vững trong nền tảng ấy; đó là viên đá góc cho việc rao giảng trong suốt 17 thế kỷ sau đó”.

Đức Thượng phụ Constantinople cũng đề cập đến những vấn đề hiện nay như tính hiệp hành và ngày chung để cử hành lễ Phục Sinh.

“Để có thể trở thành chứng nhân Kitô hữu đáng tin cậy”, ngài nói, “chúng ta cần phải mừng kính biến cố Phục Sinh của Đấng Cứu Độ vào cùng một ngày. Cùng với Đức cố Giáo hoàng Phanxicô, chúng tôi đã thành lập một ủy ban để nghiên cứu vấn đề này. Tuy nhiên, vẫn còn có những khác biệt trong cảm nhận giữa các Giáo hội, và chúng ta phải tránh gây ra những chia rẽ mới, thay vì làm trầm trọng thêm sự chia rẽ”.

Nhà lãnh đạo Giáo hội Chính Thống nhấn mạnh rằng điều này đòi hỏi một nỗ lực chung: “Việc tìm kiếm một ngày chung cho lễ Phục Sinh là một mục tiêu mục vụ quan trọng, đặc biệt đối với các đôi hôn nhân và gia đình thuộc nhiều hệ phái khác nhau, cũng như trước thực tế về việc mọi người phải thường xuyên di chuyển, nhất là trong các dịp lễ”.

“Với một ngày Phục Sinh chung, xác tín sâu xa của đức tin Kitô giáo có thể được thể hiện một cách đáng tin cậy hơn nữa: rằng lễ Phục Sinh không chỉ là đại lễ lâu đời nhất mà còn là quan trọng nhất của Kitô giáo, và đức tin Kitô giáo trường tồn hay sụp đổ với Mầu nhiệm Vượt Qua, như Giáo hội sơ khai đã tóm kết xác tín nền tảng này bằng cụm từ: ‘Nếu trước bỏ sự Phục Sinh, thì ngay lập tức Kitô giáo bị phá hủy’. Tầm quan trọng nền tảng của lễ Phục Sinh sẽ được nhấn mạnh bằng một ngày chung, điều này cũng sẽ đem lại động lực mới cho hành trình đại kết hướng đến việc tái lập sự hiệp nhất của Giáo hội Đông và Tây phương trong đức tin và tình yêu”.

“Thật vậy, đại kết cũng chỉ có thể tiến triển trên con đường tái lập sự hiệp nhất của Giáo hội nếu được thực hiện chung và, do đó, trong tinh thần hiệp hành. Tầm quan trọng nền tảng của tính hiệp hành đối với cam kết đại kết đã được chứng minh rõ ràng qua hai văn kiện quan trọng, chẳng hạn như bản nghiên cứu ‘Giáo hội hướng tới một tầm nhìn chung’, vốn khát vọng một cái nhìn đa phương và đại kết về bản chất, mục tiêu và sứ mạng của Giáo hội”, Đức Thượng phụ Bartholomew khẳng định.

Đức Thượng phụ Bartholomew kết luận bằng cách nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghiên cứu chung: “Tầm nhìn này cũng được Ủy ban Thần học Quốc tế chia sẻ trong văn kiện định hướng ‘Tính hiệp hành trong đời sống và sứ vụ của Giáo hội’, vốn nhận định rằng đối thoại đại kết đã đạt tới mức nhìn nhận tính hiệp hành như một ‘chiều kích mặc khải về bản chất Giáo hội’”.

“Cái nhìn tổng quan lịch sử này giúp chúng ta hiểu rằng sự tiến triển của tính hiệp hành trong đời sống Giáo hội và tinh thần đại kết cần phải được thực thi với sự chính xác về thần học và sự thận trọng mục vụ. Bài học này cũng có thể được rút ra từ việc nghiên cứu Công đồng Nicea”, Đức Thượng phụ Chính Thống kết luận.

Minh Tuệ (theo CNA)

 

Bài liên quan

Bài mới

Facebook

Youtube

Liên kết