Tôi có một "Giáo Hội Gia Đình"

Thứ Sáu, 24-02-2017 | 17:14:33

Chẳng cần dạy dỗ nhiều lời nhưng những tấm gương sáng về sự can trường, tín thác, hy sinh, dấn thân của ông bà, các bác, các cô chú là tấm gương soi, là những minh chứng quý giá, dạy cho thế hệ con cháu chúng tôi biết thế nào là tình yêu và lòng trung thành của Thiên Chúa cho nhân loại, dạy chúng tôi biết cách đáp trả lại tình yêu thương đó như thế nào.

***

IMG_9749

Tôi được bố mẹ kể lại cho nghe rằng gia đình nội tôi ngày xưa nghèo lắm. Nhà tranh vách đất xiêu xiêu, vẹo vẹo. Nhà chỉ có vài sào ruộng trồng lúa mà con cái thì đông, gặt lúa về cũng chỉ đủ nộp thuế và lo bữa ăn qua ngày.  Vì thế các bác, các cô tôi chẳng được học hành đến nơi đến chốn, chỉ tới khi đọc rành cái chữ, biết nhân chia cộng trừ là thôi, phải nghỉ học để đi làm vần công cho người ta, đến khi tới lượt nhà mình cần trồng cấy thì đổi công lại, khỏi phải trả tiền. Cả nhà chỉ riêng Bác cả do được gửi vào ở với cha xứ từ nhỏ nên được học hành tốt hơn.

Năm 1961 là một năm đầy gian nan, khốn khó với gia đình nội. Bác cả lúc đó đã là thầy tu, đang làm việc cho cha xứ tại Tòa Giám mục thì bị bắt với tội danh “phản động”. Cô tôi nói: “gọi là phản động cho dễ hiểu chứ thực ra nó bắt người ta đi tù nó có xử gì đâu, nó cũng đâu có nói vì tội gì, nó muốn bắt thì nó bắt à”. Bà nội tôi thương con, biết con mình bị đối xử bất công nhưng cứ âm thầm chịu đựng và trông cậy vào ơn Chúa, ngày đêm thầm thĩ cầu xin cho con mình được ơn bền đỗ đến cùng.

Trong suốt 13 năm 6 tháng ở tù, Bác kể lại, nhà tù là một nơi dễ làm tha hóa con người nhất, nhưng cũng nơi ấy, đức tin, lòng đạo hạnh và ý chí kiên cường nơi con người lại được tôi luyện tốt hơn bất cứ nơi nào, nếu người ta biết trông cậy vào ơn Chúa. Những năm tháng ở tù, người ta yêu cầu Bác nếu lấy vợ thì cho về ngay, không thì cứ tiếp tục ở tù, Bác kiên định trả lời: “Các ông bắt tôi ở đâu thì trả tôi về đó” – nghĩa là bắt ở Tòa Giám Mục thì trả về Tòa Giám Mục. Rồi trong rất nhiều năm liền, họ thuyết phục Bác làm “tay trong” cho họ thì sẽ có rất nhiều đặc quyền đặc lợi. Bác trả lời: “Các ông có giết tôi thì cứ giết, chứ bảo tôi làm việc đó thì tôi không làm, bởi nếu tôi làm, liệu các ông còn tin tôi mãi không, trước sau gì tôi cũng bị giết thôi”… Chẳng có gì có thể khuất phục tâm hồn của một con người đã được Chúa chọn và thánh hiến. Rồi thì tới tháng 11 năm 1974 Bác cũng được ra khỏi trại giam. Cũng giống như khi bắt đi, chẳng có lý do gì cho việc trở về như thế cả. Bác trở về cùng với sự quản thúc của chính quyền cộng sản, không được phép tiếp tục đi tu, nhưng với lòng kiên trung và tín thác, Bác vẫn tiếp tục trong âm thầm. Hai năm sau Bác lãnh chức linh mục “chui”. Ngày Bác lãnh chức linh mục, chẳng ồn ào náo nhiệt, chẳng mâm cao cỗ đầy, chẳng quần áo xúng xính. Chỉ riêng bà nội và cô tôi biết. Trong nhiều năm liền sau đó, hàng ngày Bác vẫn đi làm thợ xây, rồi đêm xuống âm thầm dâng Thánh lễ trong phòng kín, còn hai người phụ nữ ấy thì cứ tín thác và trao phó trọn vẹn con mình/anh mình cho Đấng mà họ đang tôn thờ.

Rồi cũng tới lúc lòng ao ước được cho nhiều người kín múc ơn lành từ Thánh lễ thúc đẩy, Bác bắt đầu dâng lễ một cách công khai, mặc cho chính quyền cấm cản và bắt bớ liên tục. Căn nhà nội tôi là nơi bác cử hành Thánh lễ hàng ngày. Giáo dân ban đầu là những người trong gia đình, rồi lan ra chòm xóm, rồi tới khắp thôn. Còn nhớ hồi đó tôi mới chỉ lên 7 tuổi, mẹ gọi dậy tham dự Thánh lễ, phải dậy từ 2 -3 giờ sáng, có khi thì sốt sắng dậy liền, có khi thì còn ngái ngủ, mà trời đông giá lạnh ngắt, bị mẹ gọi dậy khóc hu hu, rồi ngồi thu lu trên giường, vừa cuốn chăn vừa tham dự Thánh lễ.

Cấm cản mãi không xong với lập trường đầy cứng rắn của Bác, cuối cùng thì chính quyền cũng để cho Bác hợp thức hóa thủ tục và chính thức quản xứ.

Nhà nội tôi ở là một nơi đạo Công Giáo gần như toàn tòng – giáo xứ Kiên Lao, Giáo phận Bùi Chu. Người dân chất phác, chân quê, không có nhiều điều kiện để học những kiến thức thần học, triết học cao siêu nhưng mà đức tin vào Chúa, vào Giáo Hội thì tuyệt đối. Tất cả mọi người đều coi việc của giáo xứ, giáo họ như là việc trong gia đình nhà mình. Mọi hoạt động nơi giáo xứ hòa trộn vào với những sinh hoạt trong gia đình, kể cả trong chuyện làm ăn kinh tế và hầu như người ta không thấy có sự tách biệt nào giữa nhà mình và nhà thờ ở nơi đây. Nhịp sinh hoạt hàng ngày cũng gắn với hoạt động nơi giáo xứ. Sáng sáng, chiều chiều hàng ngày bà con giáo dân đi tham dự Thánh lễ nườm nượp khắp đường làng. Rồi cứ tới 12h trưa, chuông ở tất cả các nhà thờ xung quanh vang lên rộn ràng, cả nhà chúng tôi sấp mình xuống ngợi khen Thiên Chúa với bài kinh Magnificat. Riêng lũ trẻ chúng tôi thì đến nhà thờ viếng Chúa, thế nào sau khi viếng xong, chúng tôi cũng được bà quản phát cho mỗi đứa vài cái bánh quy hay cái kẹo dồi mang về.

Chúng tôi luôn được nhắc nhở đi lễ là phải mặc quần áo chỉnh tề, kín đáo và sạch sẽ, phụ nữ từ già tới trẻ phải mặc áo dài trắng hoặc đen mới được tới nhà thờ.

Cứ thế, những việc cử hành thánh lễ, đọc kinh tối sáng hàng ngày đã đi sâu vào đời sống gia đình chúng tôi, trở thành nề nếp sinh hoạt ngày thường. Thậm chí trong các trò chơi của chúng tôi, có khi chúng tôi họa lại trong trò chơi là một Thánh lễ. Chúng tôi cắt giấy, lấy màu vẽ làm thành ngai tòa Chúa thật nhiều màu sắc và đẹp nữa. Anh họ tôi được đóng vai làm linh mục, tôi được anh ưu ái cho làm giúp lễ. Chúng tôi lấy tàu lá chuối uốn lại thành 1 chiếc chén lễ, rồi đi xin những mẩu bánh vụn nơi các bà sơ trong xứ về làm bánh lễ. Chúng tôi tập hợp lại, rồi rước ngai tòa Chúa đi quanh 1 vòng sân, sau đó dựng lại ở nơi mát mẻ. Anh tôi bắt chước cha xứ giơ tay ban phép lành và bắt đầu Thánh lễ. Anh tôi quả thật là tài tình khi nhớ hết từng lời kinh và các thứ tự trong cử hành Thánh lễ, chúng tôi ở dưới cũng nghiêm trang hòa theo.

Giờ thì anh họ tôi cũng là một linh mục của Chúa sau bao nhiêu năm miệt mài học tập và chờ đợi được sự “cho phép” của nhà nước. Cứ mỗi lần tới thăm anh, chúng tôi lại miên man với những kỷ niệm đẹp và nhắc tới nhiều bài học từ tấm gương kiên trung nơi Bác cả, về lòng tín thác vào ơn Chúa nơi cả gia đình chúng tôi.

Chẳng cần dạy dỗ nhiều lời nhưng những tấm gương sáng về sự can trường, tín thác, hy sinh, dấn thân của ông bà, các bác, các cô chú là tấm gương soi, là những minh chứng quý giá, dạy cho thế hệ con cháu chúng tôi biết thế nào là tình yêu và lòng trung thành của Thiên Chúa cho nhân loại, dạy chúng tôi biết cách đáp trả lại tình yêu thương đó như thế nào. Tôi thấy rõ Giáo Hội của Chúa đang hiện diện trong gia đình chúng tôi, một Giáo Hội luôn nỗ lực tranh đấu cho lẽ phải, cho sự công bằng và phẩm giá con người. Một Giáo Hội còn nhiều yếu đuối, bất toàn song lại biết trung tín với lời mời gọi làm nhân chứng cho Chúa giữa những bộn bề của kiếp nhân sinh.

Cát Minh

Nguồn: Tập san GHXHCG số 14