Tòa Thánh, Trung Quốc và vấn đề về thẩm quyền luân lý

Giáo hoàng Francis chúc phúc cho đám đông tại Quảng trường Thánh Peter ở Vatican vào ngày 11 tháng 10. Giáo hoàng đã bị chỉ trích vì sự im lặng của ông đối với những vi phạm nhân quyền ở Trung Quốc. (Ảnh: AFP)

Đức Giáo hoàng Phanxicô ban phép lành cho đám đông tại Quảng trường Thánh Phêrô, Vatican vào ngày 11 tháng 10. Ngài đã bị chỉ trích vì sự im lặng trước những hành vi vi phạm nhân quyền ở Trung Quốc (Ảnh: AFP)

Trong khi thỏa thuận tạm thời năm 2018 giữa Trung Quốc và Vatican cần sớm được gia hạn, nhiều tiếng nói đang dấy lên những mối lo ngại và chỉ trích thỏa thuận này.

Trước tình hình ở Hồng Kông và Tân Cương, nhiều người không hiểu làm thế nào mà Đức Giáo hoàng Phanxicô có thể lên tiếng về các vấn đề xã hội trên thế giới mà lại chẳng đả động gì về những bất công đã gây ra tại “Vương quốc Trung tâm” (Middle Kingdom). Theo quan điểm của họ, nếu Rome đồng thời nhắm mắt làm ngơ trước những hành vi vi phạm nhân quyền và tự do tôn giáo xảy ra ở Trung Quốc và gia hạn thỏa thuận tạm thời với Bắc Kinh, thì Rome sẽ đánh mất thẩm quyền luân lý của mình.

Rõ ràng, những sự việc đang xảy ra ở Trung Quốc quả là đáng lo ngại. Nhiều bằng chứng xác nhận rằng các giáo sĩ Công giáo đang bị áp lực mạnh mẽ để gia nhập Hiệp hội Công giáo Yêu nước Trung Quốc do nhà nước kiểm soát. Trong vài tháng qua, Bắc Kinh đã từ chối một cách nghiêm khắc quyền tự trị của khu vực Hồng Kông và vũ lực đã được sử dụng để bịt miệng các nhà hoạt động ủng hộ dân chủ của họ. Ở phía bên kia của đất nước, chính phủ Trung Quốc đang triển khai nhiều chương trình khác nhau thực hiện việc triệt sản và phá thai một số lượng lớn những người Hồi giáo sống ở Tân Cương. Những sự thật này không thể bị xem nhẹ.

Tuy nhiên, tôi muốn suy tư về lập luận về thẩm quyền luân lý tận bản chất. Mặc dù không ai có thể phủ nhận rằng tầm quan trọng của Tòa Thánh chính xác nằm ở thẩm quyền luân lý, nhưng tôi muốn làm nổi bật những rủi ro của việc hạ thấp Đức Thánh Cha xuống chỉ còn là một nhân chứng luân lý phổ quát. Chắc chắn, đức tin Kitô giáo là về khát vọng hướng tới hành vi luân lý và công ích. Tuy nhiên, việc miêu tả chức vị Giáo hoàng một cách đáng chú ý thông qua các đặc điểm luân lý không chỉ mang thính thiên vị mà còn nguy hiểm. Tôi cho rằng nó củng cố một loạt các giả định mơ hồ và làm sai lệch chức năng thực tế của Tòa Thánh. Vì vậy, tôi đề nghị xem xét vấn đề về thẩm quyền luân lý từ bốn góc độ khác nhau, mỗi góc độ đều nhấn mạnh một lớp giả định mà các Kitô hữu nên đặt vấn đề một cách cẩn trọng.

Trước hết, các lập luận về thẩm quyền luân lý của Đức Giáo hoàng phải được đánh giá từ góc độ khoa học chính trị. Các nhà sử học đã tuyên bố rằng kể từ khi không còn chế độ Nhà nước Giáo hoàng (Papal state), Đức Giáo hoàng thiếu đi những gì tạo nên nguồn quyền lực chính của nhà nước: một lãnh thổ và các nguồn thu liên quan của nó. Theo quan điểm của họ, Tòa Thánh không phải là một quốc gia có chủ quyền thông thường; tính hợp pháp và năng lực can thiệp vào các vấn đề thế giới chủ yếu dựa vào thẩm quyền luân lý của nó.

Lý thuyết chính trị nền tảng mơ hồ về nhiều mặt. Bằng cách phản đối những đặc thù của Thành quốc Vatican đối với hầu hết các quốc gia, diễn ngôn này ngụ ý rằng quyền lực nhà nước tìm thấy sức mạnh của mình từ hai nguồn gốc căn bản: các giá trị vật chất (tài nguyên thiên nhiên, dân số, phương tiện sản xuất) và các giá trị phi vật chất (hệ tư tưởng chính trị, lịch sử). Nhưng làm thế nào để lý thuyết này phù hợp với sự phân chia quyền lực do nhà triết học khai sáng Montesquieu xây dựng? Các quyền lập pháp, tư pháp và hành pháp là vật chất hay phi vật chất?

Nếu chúng ta chuyển sang phân tích nhân học của Marshall Sahlins về “người đàn ông có tầm ảnh hưởng lớn” và người đứng đầu, hoặc xã hội học về giáo dục của Pierre Bourdieu, chúng ta cũng nhận thấy rằng quy mô của một xã hội, hệ thống thân tộc và các hình thức bạo lực được hợp pháp hóa của nó quyết định loại hình cấu trúc chính trị nó thiết lập. Thông qua việc thành lập các vị trí cố định, tích lũy uy tín cá nhân hoặc thiết lập huyết thống, xã hội loài người sử dụng một loạt các công cụ văn hóa để hình thành quyền lực và kiểm soát các thành viên của họ. Do đó, quyền lực nhà nước không phải là kiến trúc mang tính đơn nguyên (monolithic) hay mang tính nhị phân (binary).

Chắc chắn, Đức Giáo hoàng Phanxicô, giống như Đức Dalai Lama và Đại Iman Ahmad Al-Tayed, nắm giữ thẩm quyền luân lý. Nhưng Ngài cũng là nguyên thủ quốc gia của một thực thể có chủ quyền, Tòa Thánh, trao đổi đại sứ với hơn 180 quốc gia. Đức Giáo hoàng Phanxicô là trung tâm của mạng lưới 1,3 tỷ tín hữu và nắm giữ quyền hành đáng kể đối với các giáo sĩ Công giáo trên toàn thế giới. Hưởng lợi từ nhiều thế kỷ lịch sử liên tục, Ngài bảo vệ các kiệt tác và kho lưu trữ lịch sử vô giá. Nói cách khác, Đức Giáo hoàng không chỉ là một nhân vật luân lý. Những người trình bày Đức Giáo hoàng chỉ qua đặc điểm này không tinh tế – hoặc khôn ngoan hơn – hơn Joseph Stalin, người đã hạ thấp Vatican chỉ còn là các đơn vị quân sự.

Thứ hai, sự nhấn mạnh về thẩm quyền luân lý phải được đặt ra từ quan điểm của các nghiên cứu tôn giáo. Trên thực tế, một phần đáng kể của chủ nghĩa hiện đại của phương Tây dựa trên khuynh hướng thế tục hóa hạ thấp tôn giáo trở thành một nhiệm vụ đạo đức. Đối với các nhà khoa học xã hội thế tục, con người là những thực thể mang tính tôn giáo vì họ muốn khuyến khích những hành vi tốt. Vì vậy, tôn giáo là sản phẩm do con người tạo ra để củng cố và tuyệt đối hóa quy tắc ứng xử của xã hội.

Nhưng cách tiếp cận này hạ thấp sự phong phú của các hiện tượng tôn giáo. Ngày nay, một loạt những hiểu biết về mặt học thuật chỉ ra việc nền luân lý hiện đại của các tôn giáo không nhắm vào tính đa dạng to lớn của các truyền thống tôn giáo và các vị thần của họ. Ví dụ, vai trò của Chúa Giêsu Kitô trong Kitô giáo không giống với vai trò của Bồ-tát trong Phật giáo, Kinh Qur’an trong Hồi giáo, hay Taishan trong tôn giáo bình dân của Trung Quốc.

Hơn nữa, diễn ngôn thế tục này từ chối xem xét các vị thần không nhất thiết là tốt hay xấu. Ví dụ, trong trường hợp ngôi đền truyền thống của Trung Quốc, chúng ta thấy các vị thần ở trên thiên đường hoặc ở dưới địa ngục, những vị không nhất thiết phải tốt hay xấu về bản chất. Đúng hơn, những vị thần đó mơ hồ và đầy quyền năng vì luân lý không phải là vấn đề cốt lõi. Đó là hiệu quả và năng lực để hành động theo những điều quan trọng.

 Nói cách khác, các tôn giáo không nên chỉ được thu gọn vào một vấn đề đơn thuần về luân lý. Tất nhiên, tất cả các tôn giáo đều vướng vào những tình huống lưỡng nan về luân lý. Nhưng họ còn làm được nhiều hơn thế. Và Tòa Thánh cũng vậy! Nhiệm vụ của Tòa Thánh còn rộng lớn hơn những điều mà các diễn ngôn thế tục tuyên bố. Chúng ta đừng quên rằng càng nói nhiều về luân lý mang tính trừu tượng và phổ quát, chúng ta càng ít nhìn vào mẫu gương của Chúa Giêsu trong việc đối phó với sự phức tạp của các tình huống cụ thể.

Điều này đưa tôi đến điểm thứ ba, sự hiểu biết cơ bản của chúng ta về luân lý. Khi chúng ta liên tục giới thiệu Vatican như một nhân chứng luân lý, điều này có ý nghĩa gì – và ngụ ý gì – về luân lý? Rõ ràng, rủi ro là đề cập đến luân lý như một thực tế có thể hiểu được. Luân lý được coi như là một điều gì đó về những hành vi tốt đẹp, một chân lý phổ quát mà mọi người đều nhận thức được.

Những giả định này một lần nữa lại tiếp tục mơ hồ. Nếu chúng ta hạ thấp luân lý xuống chỉ còn là một tập hợp các quy tắc và nguyên tắc giả định xác định về mặt lý thuyết việc thế nào là hành vi tốt, thì ai là người xây dựng và phân loại chúng? Liệu Tòa Thánh có thể duy trì mối quan hệ ngoại giao với một quốc gia áp dụng án tử hình và sở hữu vũ khí hạt nhân? Chúng ta không thể bỏ qua rằng việc xây dựng các nguyên tắc luân lý luôn liên quan đến những người tuyên bố chúng một cách rõ ràng. Nói cách khác, các chuẩn mực luân lý bắt nguồn từ thế giới quan nhân học và thần học của người đề ra chúng. Một số chuẩn mực chung có thể vẫn tồn tại, nhưng số lượng chính xác, bản chất và thứ bậc tương hỗ của chúng vẫn còn đang bị đặt vấn đề.

Vì vậy, chúng ta cần phải rõ ràng. Hành vi luân lý là việc thực hiện các phán đoán và nguyên tắc luân lý vào những hoàn cảnh cụ thể và sự tồn tại của cá nhân. Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu không ngừng tham gia vào những bối cảnh căng thẳng đặt ra giữa các luật phổ quát và các tình huống cụ thể. Không phủ nhận tầm quan trọng của các nguyên tắc luân lý phản ánh phần nào lời kêu gọi phổ quát của Chúa Cha, Chúa Giêsu tiết lộ việc những phán xét và hành vi luân lý không bao giờ có thể bị thu gọn thành mô hình “một kích thước phù hợp với tất cả”. Thói quan liêu này không đáp ứng lý tưởng luân lý Kitô giáo.

Do đó, khi những lo ngại về thẩm quyền luân lý của Đức Giáo hoàng được lặp đi lặp lại liên tục, chúng không chỉ đẩy Tòa Thánh vào một tháp ngà – hay một nhà tù bằng vàng – mà còn xa rời Phúc Âm. Thẩm quyền luân lý của Đức Giáo hoàng không phải là một sự trổi vượt về luân lý. Trong một Hội Thánh tràn đầy Thần Khí của Đức Kitô, câu chữ của luật hay áp dụng luật lệ là chưa đủ.

Điều này dẫn tôi đến luận điểm thứ tư và cuối cùng của tôi. Nó liên quan đến hình thức Giáo hội học được ngụ ý bởi một sự nhấn mạnh quá mức vào thẩm quyền luân lý của Vatican. Khi chúng ta trình bày Đức Thánh Cha như một nhân chứng luân lý phổ quát, nói cho mọi người biết đâu là điều tốt, chúng ta đang ủng hộ kiểu Giáo hội như thế nào? Thật vậy, những ai nhấn mạnh vào phạm vi phổ quát của thẩm quyền luân lý của Đức Giáo hoàng có nguy cơ biến Ngài trở thành một vị Mục tử ‘hiện diện ở khắp mọi nơi’. Với cách tiếp cận này, Đức Thánh Cha đại diện cho một vị Mục tử phổ quát lãnh đạo mọi cộng đồng địa phương bất kể thực tế và động lực cụ thể của nó. Kế đến, Đức Giáo Hoàng không phải là vị Giám mục đầu tiên và quan trọng nhất của Rôma phục vụ sự hiệp thông của Giáo hội, Ngài hiện thân cho chân lý.

Vấn đề với khoa Giáo hội học thế kỷ 19 này quá nhấn mạnh đến thẩm quyền phổ quát của Đức Giáo hoàng là nó bỏ qua trách nhiệm của các Giám mục địa phương và các Linh mục chịu trách nhiệm coi sóc đàn chiên của họ. Ngoài ra, tầm nhìn theo hình thức kim tự tháp này của Giáo hội, hấp dẫn một số người Công giáo và không Công giáo, đã được khuyến khích và cân nhắc bởi Giáo huấn của Công đồng Vatican II. Vị Giám mục Rôma không thay thế Giám mục Đoàn. Đúng hơn, Ngài là Tôi tớ của các tôi tớ của Thiên Chúa. Sứ vụ của Ngài đó là phục vụ các Giám mục của Giáo hội và bảo vệ sự hiệp thông của họ. Trong mô hình Giáo hội này, thẩm quyền tối cao của Giáo hội nằm trong tay Giám mục Đoàn, những người dấn thân trong tinh thần hiệp thông với vị Giám mục Rôma và người kế vị Tông đồ Đoàn.

Tất nhiên, Vatican vẫn có thể can thiệp vào nhiều vấn đề địa phương của Giáo hội và chính trị thế giới. Đức Giáo hoàng Phanxicô liên tục tố cáo những bất công cụ thể và những cơ cấu tội lỗi trên toàn thế giới. Tuy nhiên, Công đồng Vatican II đã nói rõ về nhiệm vụ nền tảng của Tòa Thánh. Tòa Thánh không thay thế các vị Mục tử địa phương nhưng hỗ trợ và khuyến khích họ. Trách nhiệm chính của Tòa Thánh là duy trì sự hiệp thông của các Giám mục.

Sau khi xác định được những mơ hồ về chính trị, tôn giáo, luân lý và Giáo hội học xung quanh các cuộc đàm luận về thẩm quyền luân lý của Đức Giáo hoàng, giờ đây chúng ta có thể quay lại với thỏa thuận Trung-Vatican. Liệu có phải Vatican đang đánh mất thẩm quyền luân lý của mình khi gia hạn thỏa thuận với Trung Quốc của Tập Cận Bình?

Một lần nữa, chúng ta phải thừa nhận rằng trước sự đàn áp chính trị xung quanh các hoạt động tôn giáo ở Trung Quốc, không ai có thể thực sự nhiệt tình với thỏa thuận Trung-Vatican. Các mối đe dọa đối với các tín đồ và xã hội dân sự Trung Quốc sẽ không biến mất trong một sớm một chiều. Nhưng nếu chúng ta từ chối đối thoại với Bắc Kinh và bỏ qua các bước nhỏ như thỏa thuận tạm thời, thì đâu là lựa chọn thay thế? Có phải chúng ta đang để cho Giáo hội Công giáo Trung Quốc được đại diện bởi những người quyết định chỉ sống đức tin của họ trong trạng thái bí mật? Xét đến cách thức nhà nước đối xử với các hoạt động tôn giáo hầm trú, liệu động thái này có phải là một động thái khôn ngoan và hợp với luân lý? Còn những người thực sự yêu nước, trung thành với Giáo hội Công giáo và Đức Giáo hoàng, và tự hào về sự tiến bộ kinh tế xã hội của đất nước họ thì sao?

Thỏa thuận Trung-Vatican cho thấy trong thực tế chính trị-tôn giáo phức tạp của Trung Quốc, Tòa Thánh tập trung vào những gì Công đồng Vatican II đã xác định là sứ mạng cốt lõi của nó. Với thỏa thuận này, Đức Thánh Cha Phanxicô hướng tới việc xây dựng sự hiệp thông giữa các Giám mục và khôi phục sự hiệp nhất của Giáo hội. Bất chấp những lời phàn nàn từ những người áp dụng Giáo hội học thế kỷ 19 hoặc cách tiếp cận thế tục hóa và được chính trị hóa, Đức Giáo hoàng và Giáo triều của Ngài đang tập trung vào các Giám mục Trung Quốc. Đó là một sự lựa chọn khó khăn nhưng hoàn toàn gắn kết với Công đồng Vatican II. Tuy nhiên, nhiều vấn đề và tình huống khó xử về mặt luân lý vẫn còn tồn tại nhưng Tòa Thánh không có giải pháp nào mang tính phép thuật. Đức Giáo hoàng không phải là một nhà ảo thuật.

Tóm lại, trong khi những lời cảnh báo có chủ đích về thẩm quyền luân lý của Đức Giáo hoàng đáng được quan tâm, chúng ta không thể để chúng xác định hoạt động của Tòa Thánh. Một lần nữa, điều bị đe dọa trong cuộc đối thoại Trung-Vatican đó là chủ quyền của Giáo hội. Đằng sau việc gia hạn thỏa thuận, vấn đề cốt lõi vẫn là việc tìm cách thể hiện và ban hành quyền tự trị tinh tế và khôn khéo của Giáo hội – Nhiệm thể của Chúa Kitô – ở Châu Á và các nơi khác. Đây là điều mà các Giám mục Rome, phù hợp với Công đồng Vatican II, tìm cách bảo vệ. Và cuộc tìm kiếm chủ quyền này – với những tình tiết về kinh tế, chính trị, thần học và Giáo hội học – là một nhiệm vụ không bao giờ kết thúc.

Michel Chambon

** Michel Chambon là một nhà thần học và nhân chủng học Công giáo người Pháp. Quan điểm được trình bày trong bài viết này là của tác giả và không nhất thiết phản ánh quan điểm biên tập chính thức của UCA News.

Minh Tuệ (theo UCA News)

Bài liên quan

Tin tức mới

Facebook

Youtube