Đức Hồng Y Cupich: Công đồng Vatican II có thể giúp chúng ta điều hướng hoạt động dấn thân trong lĩnh vực chính trị trong một đại dịch thế nào?

Ảnh: Martin Sanchez

Ảnh: Martin Sanchez

Quốc gia và Giáo hội của chúng ta đang ở trong một thời điểm then chốt khi chúng ta suy ngẫm về vấn đề cốt yếu của việc làm thế nào các cộng đồng tôn giáo có thể đóng góp cho thiện ích chung trong thời điểm đại dịch cũng như sự chia rẽ chính trị đảng phái cay nghiệt. Đối với cộng đồng Công giáo, tầm nhìn sáng suốt của Công đồng Vatican II về tôn giáo, nhà nước và trật tự chính trị mang đến một sự định hướng chưa từng có, xác định một đường hướng rõ ràng về sự tham gia của công chúng, sự hình thành lương tâm và việc làm chứng xác thực cho Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô.

Tầm nhìn mới về quan hệ Giáo hội-nhà nước

Ngay từ đầu, “Gaudium et Spes” (Hiến Chế Mục vụ về Giáo hội trong Thế giới Hiện đại) đưa ra một cách tiếp cận mới đối với hoạt động của Giáo hội giữa thế giới. Đề cập đến “Giáo hội trong thế giới hiện đại” thay vì “ thế giới hiện đại”, tựa đề của Hiến Chế này nhấn mạnh rằng Giáo hội tồn tại theo cách riêng của nó, chứ không phải vì bất kỳ cơ quan nào cho phép hoặc cấp quyền. Như Sắc lệnh của Công đồng Vatican II về hoạt động truyền giáo của Giáo hội nhấn mạnh: “Giáo hội lữ hành tự bản chất mang tính truyền giáo” (Sắc lệnh “Ad Gentes”, Số 2). Nói cách khác, quyền tự chủ và tự do của Giáo hội bắt nguồn từ thực tế rằng Giáo hội đã được sai đi, và bản chất của Giáo hội là truyền giáo.

Hơn nữa, mặc dù Giáo hội được tận hưởng sự tự chủ của mình để hành động giữa thế giới, nó không vào hùa với thế giới. Thay vào đó, việc ở trong thế giới có nghĩa là Giáo hội thực hiện cuộc hành trình trong tinh thần liên đới với toàn thể nhân loại. Nếu Giáo hội phải giữ gìn bản sắc của mình như một “dấu chỉ Bí tích và khí cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa, và của sự hiệp nhất của toàn thể nhân loại” (“Gaudium et Spes”, số 42), cần phải có sự cân bằng hợp lý giữa sự tự chủ và liên đới của Giáo hội với nhân loại.

Việc duy trì sự cân bằng đó có nghĩa là mặc dù Giáo hội không đóng vai trò như là tác nhân trực tiếp trong trật tự chính trị, kinh tế và xã hội – không phải theo cách tương tự, như các quan chức được bầu của chúng ta – sứ mạng của Giáo hội đó là biện giải những chiều kích này trong cuộc sống con người theo trật tự hầu “thiết lập và củng cố cộng đồng nhân loại theo Lề luật của Thiên Chúa” (Gaudium et Spes, số 42). Như vậy, khi Giáo hội tham gia vào nhà nước, nó không nên giới hạn bản thân trong các vấn đề “tôn giáo” một cách dứt khoát. Giáo hội cũng không nên tham gia vào nhà nước chỉ trong những vấn đề về lợi ích của bản thân – ví dụ như việc bảo vệ các tổ chức tôn giáo.

Thay vào đó, Giáo hội cần phải lên tiếng về tất cả những gì liên quan đến thiện ích chung, “bao gồm việc thúc đẩy và bảo vệ … những điều tốt đẹp chẳng hạn như trật tự công cộng và hòa bình, tự do và bình đẳng, tôn trọng sự sống con người và môi trường, công lý và liên đới” (Trích “Lưu ý về một số Vấn đề liên quan đến Sự tham gia của người Công giáo vào Đời sống chính trị” được xuất bản bởi Bộ Giáo lý Đức tin vào ngày 21 tháng 11 năm 2002). Và việc tuyên bố các giá trị này của Giáo hội không chỉ đơn thuần mang tính thể chế mà chủ yếu diễn ra thông qua lương tâm có sự hiểu biết của người Công giáo với tư cách là công dân, những người truyền các giá trị Tin Mừng vào đời sống xã hội và nhà nước.

Sứ mạng tôn giáo của Giáo hội được hiểu rõ nhất như là một trong những công việc phục vụ. Giáo hội đưa ra những Giáo huấn của mình mà không kiêu căng tự phụ về việc lúc nào Giáo hội cũng có ngay tất cả mọi câu trả lời cho mỗi một vấn đề nhưng thừa nhận rằng nó sẽ phạm sai lầm và “sẽ chỉ đạt được sự hoàn hảo trọn vẹn trong vinh quang Thiên Quốc” (Hiến Chế “Lumen Gentium”, Số 48). Trên thực tế, Giáo hội tôn trọng kiến thức của nhân loại và “mong muốn kết nối ánh sáng của sự thật được mặc khải với kho tàng kinh nghiệm của nhân loại” (“Gaudium et Spes”, số 33, và “Evangelii Gaudium”, số 241). Giáo huấn này của Giáo hội sửa đổi một thái độ sai lầm đối với thế giới được tìm thấy trong một số lĩnh vực nghiên cứu Giáo hội học về “societas perfecta” (một xã hội hoàn hảo), vốn xem Giáo hội như là bị tách biệt với phần còn lại của nhân loại.

Nhờ tính phổ quát của sứ mạng của Giáo hội, nó không bị ràng buộc với bất kỳ hình thức văn hóa cụ thể nào của con người, cũng như bất kỳ hệ thống chính trị, kinh tế hoặc xã hội nào. Trái lại, “Nhờ tính cách phổ quát ấy, Giáo Hội có thể là một mối dây liên kết hết sức chặt chẽ giữa các cộng đoàn nhân loại và các quốc gia khác nhau, miễn là các quốc gia và cộng đoàn nhân loại ấy tin tưởng vào Giáo Hội và thực sự nhìn nhận Giáo Hội có quyền tự do đích thực để chu toàn sứ mệnh mình” (“Gaudium et Spes”, số 42). Chính trong tinh thần này, “Giáo Hội khuyến cáo các con cái mình cũng như toàn thể nhân loại: hãy vượt qua mọi tranh chấp giữa các quốc gia, chủng tộc trong tinh thần gia đình con cái Thiên Chúa” (“Gaudium et Spes”, số 42). Bằng cách xây dựng các mối quan hệ tin cậy trong xã hội, Giáo hội không chỉ thúc đẩy tự do tôn giáo mà còn thực hiện sứ mạng phổ quát của mình.

Khi Giáo hội khẳng định rằng “quyền tự do tôn giáo phải được nhìn nhận trong trật tự pháp lý và phải được phê chuẩn như một quyền dân sự”, Giáo hội cũng thừa nhận rằng “quyền tự do tôn giáo tự nó không phải là một quyền vô hạn. Cần phải xác định những giới hạn chính đáng cho việc thi hành quyền tự do tôn giáo trong mỗi hoàn cảnh xã hội với sự thận trọng về mặt chính trị, căn cứ theo những đòi hỏi của công ích, và phải được xác nhận bởi nhà cầm quyền dân sự, thông qua những chuẩn mực pháp luật phù hợp với trật tự luân lý khách quan” (Học thuyết Xã hội Giáo hội Công giáo, số 422; và “Dignitatis Humanae”, số 2). Một lần nữa, chúng ta có một ví dụ về việc làm nổi bật sự cân bằng hợp lý giữa quyền tự chủ chính đáng của Giáo hội và cam kết của Giáo hội trong việc dấn thân trong tinh thần liên đới với những người khác, bao gồm cả các quan chức dân sự, vì lợi ích của cộng đồng nhân loại.

Những kết quả thực tế

Tầm nhìn của Công đồng Vatican II về Giáo hội, nhà nước và chính trị cung cấp một lộ trình an toàn khi chúng ta đối mặt với các vấn đề liên quan đến đại dịch và đảng phái vốn đang trở nên một sự hủy hoại đối với sự thống nhất quốc gia của chúng ta. Các cuộc tranh luận căng thẳng trong những ngày gần đây về tự do tôn giáo so với quyền của nhà nước để bảo vệ sức khỏe cộng đồng là một ví dụ điển hình. Đối với Giáo hội, quyền thờ phượng công khai nằm ở cốt lõi của sứ mạng và bản sắc của Giáo hội. Tương tự như vậy, đối với nhà nước, việc bảo vệ công dân là trọng tâm “raison d’être” (lý do tồn tại) của nó. Cuộc tranh luận công khai đã thường xuyên tập trung vào tập hợp các quyền này như thể chúng là tuyệt đối.

Một cách để phá vỡ sự bế tắc này có thể được tìm thấy trong trọng tâm của “Gaudium et Spes” về công ích chung, vốn thừa nhận mục tiêu siêu việt của mỗi quyền này: thờ phượng công khai và bảo vệ sự sống con người. Nhưng nó đặt những quyền đó trong bối cảnh lớn hơn của toàn bộ sự hưng thịnh của nhân loại. Không thể bỏ qua sức khỏe cộng đồng và việc bảo vệ sự sống con người cũng như quyền thờ phượng công khai. Cả hai cần phải được tích hợp vào nhóm lớn hơn của các vấn đề xung quanh phản ứng của chúng ta đối với đại dịch, chẳng hạn như những thiệt hại về mặt kinh tế mà đất nước chúng ta đang chịu đựng, tính dễ bị tổn thương của những người lớn tuổi và cách mà những người da màu phải chịu đựng một cách không tương xứng trong cuộc khủng hoảng này.

Các Giáo huấn của Giáo hội chỉ ra thực tế rằng tự do tôn giáo đôi khi có thể bị nhà nước giới hạn phù hợp với luật pháp vốn thúc đẩy thiện ích chung, nhưng những hạn chế đó phải được kiểm soát và theo dõi cẩn thận. Công đồng Vatican II mời gọi chúng ta hướng đến một viễn cảnh rộng lớn và toàn diện hơn, thay vì một viễn cảnh phát sinh từ những diễn giải tuyệt đối về các chiều kích chưa hoàn chỉnh về thiện ích chung. Và Công đồng Vatican II mời gọi chúng ta theo đuổi các cuộc thảo luận rộng rãi, thân mật về những vấn đề này thay vì các chiến thuật dẫn đến sự đối đầu.

Điều này có nghĩa là vấn đề trọng tâm đối với Giáo hội trong mùa chiến dịch bầu cử này đó là tìm cách làm chứng cho Giáo huấn Công giáo tại quảng trường công cộng mà không cho phép nó bị biến dạng bởi những sự chia rẽ mang tính đảng phái. Một trong những đoạn nổi bật nhất của Công đồng Vatican II về vai trò của Giáo hội trong thế giới hiện đại mang đến nguồn cảm hứng đó là cần phải thấm nhuần sự đóng góp của Giáo hội trong cuộc tranh luận công khai ngày nay:

“Vì lý do chức vụ và thẩm quyền của mình, Giáo Hội không cách nào bị đồng hóa với một cộng đoàn chính trị, và cũng không hề cấu kết với bất cứ hệ thống chính trị nào vì Giáo Hội vừa là dấu chỉ vừa là đảm bảo cho tính cách siêu việt của con người. Cộng đoàn chính trị và Giáo Hội, mỗi bên với lãnh vực riêng của mình, đều độc lập và tự trị” (“Gaudium et Spes”, số 76).

Điều hướng các vấn đề

 Làm thế nào để Giáo hội có thể trở thành một dấu chỉ và bảo vệ tính siêu việt của con người trong chu kỳ bầu cử năm 2020?

Trước hết, bằng cách làm chứng cho Giáo huấn Xã hội của Giáo hội thông qua việc tham gia vào cuộc tranh luận công khai và bằng cách hình thành, chứ không thay thế, lương tâm của các tín hữu. Các nhà lãnh đạo Công giáo phải từ chối mọi nỗ lực nhằm cắt xén Giáo huấn của Giáo và những đòi buộc của Tin Mừng theo cách thức củng cố những sự chia rẽ đảng phái.

Thứ hai, bằng cách vượt qua những sự chia rẽ như vậy trong mọi mối tương quan chính trị và các cuộc thảo luận chính sách. Cần có sự chân thành với tất cả các ứng cử viên và các quan chức công cộng nhưng không liên kết với bất kỳ ứng cử viên hoặc đảng phái nào.

Thứ ba, bằng cách luôn luôn thừa nhận phẩm giá thiêng liêng của lương tâm nơi tất cả mọi người, không tìm cách làm cản trở trách nhiệm để công dân phải đưa ra ánh sáng của lương tâm để gánh chịu những lựa chọn chính trị của chính họ.

Giáo hội ở trong thế giới hiện đại. Giáo hội được mời gọi để vừa trở nên nội tại vừa trở nên siêu việt. Như Vatican II đã nhấn mạnh một cách rõ ràng rằng điều đó có nghĩa là Giáo hội cần phải thực hiện vai trò tiên tri chứ không thỏa hiệp. Giáo hội phải tham gia cùng với các nhà lãnh đạo nhà nước và công chúng trong sự cộng tác chân thành nhưng không tham gia đảng phái. Giáo hội phải làm chứng cho Tin Mừng cách trọn vẹn.

Tuyên bố của Giáo hội về phẩm giá con người và việc theo đuổi thiện ích chung trong tất cả mọi chiều kích của nó cung cấp một khuôn khổ thiết yếu để điều hướng các vấn đề gây chia rẽ quốc gia chúng ta ngày nay. Đây chính là lý do tại sao Giáo hội dấn thân xã hội với cả sự xác quyết và khiêm tốn giữa những hiểm họa bủa vây chúng ta. Và chính trong lương tâm thiêng liêng của anh chị em giáo dân bất kể nam nữ, Giáo hội tìm thấy nguồn lực tuyệt vời nhất của mình để biến đổi thế giới.

Hồng Y Blase J. Cupich

** Đức Hồng Y Blase J. Cupich là Tổng Giám mục Địa phận Chicago.

Minh Tuệ (theo America)

Bài liên quan

Tin tức mới

Facebook

Youtube