Dự luật An tử của New Zealand bị coi là 'nguy hiểm và thiếu sót' trước khi bỏ phiếu

Trong một bức ảnh hồ sơ, một người biểu tình từ nhóm Derecho a Vivir ủng hộ sự sống Derecho a Vivir đứng bên ngoài quốc hội Tây Ban Nha ở Madrid, Tây Ban Nha, Thứ Ba, ngày 11 tháng 2 năm 2020. (Nguồn: Paul White / AP)

Trong bức ảnh, một người biểu tình thuộc nhóm ‘Derecho a Vivir’ ủng hộ bảo vệ sự sống đứng bên ngoài Quốc hội Tây Ban Nha ở Madrid, Tây Ban Nha, thứ Ba, ngày 11 tháng 2 năm 2020 (Ảnh: Paul White / AP)

Theo giám đốc trung tâm đạo đức sinh học Công giáo quốc gia, bất kể quan điểm của một người về an tử là gì, dự luật được đề xuất của New Zealand nhằm hợp pháp hóa thực hành này “được soạn thảo một cách sơ sài, nguy hiểm và thiếu sót”.

Khi New Zealand tiến hành bỏ phiếu vào ngày 17 tháng 10 cho cuộc tổng tuyển cử của họ, người dân nước này cũng sẽ bỏ phiếu trong cuộc trưng cầu dân ý về Đạo luật Lựa chọn Chấm dứt Sự sống 2019 (EOLC), vốn yêu cầu một cuộc trưng cầu dân ý ràng buộc có hiệu lực.

Dự luật sẽ cho phép hành động an tử và trợ tử cho một người bị bệnh nan y và có khả năng không qua khỏi trong vòng sáu tháng. Để đủ điều kiện, một người phải ở trong tình trạng suy giảm thể chất không thể hồi phục và trải qua “sự đau đớn không thể chịu đựng nổi” vốn không thể giải tỏa bằng bất kỳ cách nào khác mà họ thấy có thể chịu đựng được.

Tiến sĩ John Kleinsman là Giám đốc của Trung tâm Nathaniel, tổ chức tư vấn về đạo đức sinh học được thành lập bởi các Giám mục Công giáo của New Zealand, và ông đã cảnh báo rằng người dân trong nước không bỏ phiếu về việc họ có nghĩ rằng việc an tử có nên được hợp pháp hóa hay không, mà là về chế độ pháp lý do luật cụ thể này áp đặt.

“Khi cho rằng dự luật được đề xuất là nguy hiểm, các nhà bình luận đã nhấn mạnh một số vấn đề rõ ràng với Đạo luật EOLC bao gồm: Không yêu cầu một người nói về quyết định của họ với một thành viên gia đình hoặc bạn bè đáng tin cậy; không có thời kỳ chờ quyết định bắt buộc như ở các quốc gia khác – một người có thể qua đời chưa đến bốn ngày sau khi chẩn đoán; không cần nhân chứng độc lập; thiếu các biện pháp bảo vệ và quy trình để phát hiện sự ép buộc cũng như sự trầm cảm; và không yêu cầu một người có đủ năng lực tại thời điểm họ đưa ra quyết định cuối cùng về việc sử dụng các loại thuốc gây tử vong”, Tiến sĩ Kleinsman viết trong số mới nhất của Báo cáo Nathaniel.

Tuy nhiên, Tiến sĩ Kleinsman cho biết có “những lý do sâu xa hơn” để phản đối luật được đề xuất.

“Mối nguy hiểm nền tảng liên quan đến việc hợp pháp hóa việc an tử và trợ tử ở New Zealand đó là chúng ta sẽ vượt qua giới hạn – một quyết định không lùi lại được nữa – bằng cách tạo ra, trong luật pháp cũng như trong tâm trí của mọi người, một lớp người – những người mắc bệnh nan y – những người bị phân biệt; một nhóm có cuộc sống bị coi là không còn đáng được bảo vệ theo cách chúng ta bảo vệ những cuộc sống khác; một nhóm không chỉ có thể hiểu được mà còn hợp lý khi họ có thể muốn kết thúc sự sống của mình sớm hơn; một nhóm người mà đối với họ việc trợ tử được chấp thuận và sẽ được Nhà nước tạo điều kiện và cụ thể hơn là bởi hệ thống y tế do chính Nhà nước tài trợ – trớ trêu thay, cùng một hệ thống y tế chịu áp lực phải đồng thời tài trợ và cung cấp dịch vụ chăm sóc cho những người mắc bệnh nan y”, Tiến sĩ Kleinsman viết.

Trong số những quốc gia đã hợp pháp hóa vấn đề an tử hoặc trợ tử được hỗ trợ về mặt y tế là Bỉ, Canada, Colombia, Luxembourg, Hà Lan và Thụy Sĩ. Tám tiểu bang của Hoa Kỳ và Washington D.C. cũng đã hợp pháp hóa việc trợ tử được hỗ trợ về mặt y tế.

 Tiến sĩ Kleinsman tuyên bố rằng tại các khu vực pháp lý đã hợp pháp hóa việc trợ tử được hỗ trợ về mặt y tế, có sự gia tăng liên tục và theo cấp số nhân về số lượng người tiếp cận với vấn đề an tử và cái chết êm ái do bác sĩ hỗ trợ.

 Tiến sĩ Kleinsman cho biết rằng điều này chỉ ra rằng, trong một khoảng thời gian tương đối ngắn, thực hành này chuyển từ việc là phương kế sau cùng đối với bệnh nan y trở thành “cách chết mặc định”.

“Tại một số khu vực có mã bưu chính của Hà Lan, an tử hiện chiếm tới 15% tổng số ca tử vong và khoảng 30% tổng số ca tử vong được dự báo trước”,  Tiến sĩ Kleinsman viết.

Ông cũng lưu ý rằng mặc dù ELOC khiến công chúng tin rằng đây là đạo luật được sử dụng như một biện pháp cuối cùng, trong những trường hợp người ta đau đớn không thể chịu đựng nổi, thực tế là nó sẽ áp dụng cho một bộ phận dân chúng rộng lớn hơn.

“Một người không cần phải đau đớn mới tiếp cận Đạo luật EOLC. Tuy nhiên, khi Đạo luật đang được tranh luận tại quốc hội, nhiều người đề xướng Đạo luật EOLC đã đưa ra những giai thoại cá nhân về những người đang hấp hối trong cơn đau đớn khủng khiếp như là lý do chính để thay đổi luật”, Tiến sĩ Kleinsman nói.

“Nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy nhu cầu đối với việc trợ tử không phải do đau đớn hay sợ hãi mà do nhiều lý do cá nhân và xã hội, bao gồm nỗi sợ trở thành gánh nặng, nỗi sợ trở thành người tàn phế và cô đơn. Tương tự như vậy, Đạo luật EOLC sẽ cho phép một cái chết xảy ra sớm hơn vì những lý do cá nhân và xã hội – trong báo cáo hàng năm mới nhất về cái chết êm ái từ Canada, 13,7% trích dẫn tình trạng bị cô lập hoặc sự cô đơn là một yếu tố; 34% trích dẫn cảm giác của việc “trở thành gánh nặng” và 53,3% là cảm giác của việc “bị đánh mất phẩm giá”, Tiến sĩ Kleinsman tiếp tục.

Một cuộc thăm dò được thực hiện vào năm ngoái cho thấy chỉ có 20% người dân New Zealand ủng hộ việc an tử cho những người không phải chịu đựng sự đau đớn và Tiến sĩ Kleinsman cũng lưu ý rằng sự đau đớn giày vò mà những người sắp chết phải trải qua có thể được chế ngự hữu hiệu thông qua việc chăm sóc giảm nhẹ, thêm vào đó, luật hiện hành đã cho phép mọi người nói ‘không’ với bất kỳ phương pháp điều trị nào và phải được nhận bất kỳ mức độ giảm đau nào mà họ cần, thậm chí đến mức phải dùng thuốc an thần nếu cần thiết.

“Việc mọi người chết trong đau đớn những ngày này là hoàn toàn không thể chấp nhận được, và nếu có dịch vụ chăm sóc giảm nhẹ chất lượng thì không ai sẽ  phải chết trong sự đau đớn về thể xác. Giải pháp cho những cái chết đau đớn khủng khiếp là việc tiếp cận tốt hơn với dịch vụ chăm sóc giảm nhẹ, giải quyết hiệu quả các nhu cầu về thể chất, cũng như tâm lý, tình cảm, gia đình, văn hóa và tâm linh của con người”, Tiến sĩ Kleinsman nói.

Hiệp hội Y khoa New Zealand (NZMA) cũng đã phản đối dự luật được đề xuất, đồng thời nhấn mạnh rằng nó có những thiếu sót nghiêm trọng khiến những người dễ bị tổn thương có nguy cơ bị chết cách công.

“Chúng tôi tin rằng Đạo luật Lựa chọn Chấm dứt Sự sống sẽ góp phần bình thường hóa việc tự tử và gửi đi thông điệp rằng tự tử có thể được coi như là một phản ứng thích hợp để đối phó với sự đau khổ”, tổ chức này cho biết trong một tuyên bố.

NZMA cũng cho biết luật này sẽ hủy hoại vĩnh viễn mối tương quan giữa bác sĩ – bệnh nhân.

“Nếu các bác sĩ trở thành những người cứu chữa mạng sống cũng như bảo toàn mạng sống con người, những đặc điểm mà chúng ta tạo ra nơi các bác sĩ sẽ cơ bản thay đổi. Họ không nhất thiết phải liều bảo vệ sự sống và một bệnh nhân có thể không tin tưởng vào giả định này”, tuyên bố kết luận.

Minh Tuệ (theo Crux)

Bài liên quan

Tin tức mới

Facebook

Youtube