‘Cuộc sống hậu ISIS’: Các Kitô hữu rời bỏ Iraq do những lo ngại về an ninh đang diễn ra

Nhà thờ Côgn giáo kính Thánh Mar Behnam và Mart Sarah ở Qaraqosh, Iraq cử hành Thánh lễ Giáng sinh ngày 25 tháng 12 năm 2018 trước khi nhà thờ được cải tạo. Tín dụng: AFP / Getty Images

Nhà thờ Công giáo kính Thánh Mar Behnam và Mart Sarah tại Qaraqosh, Iraq cử hành Thánh lễ Giáng sinh ngày 25 tháng 12 năm 2018 trước khi nhà thờ được cải tạo (Ảnh: AFP / Getty Images)

Theo một báo cáo được công bố gần đây của Tổ chức Viện trợ các Giáo hội Đau khổ (ACN), nhiều gia đình Kitô giáo đã rời bỏ Đồng bằng Nineveh hơn là trở về quê nhà vào năm ngoái giữa bối cảnh của những lo ngại về vấn đề an ninh đang diễn ra ở miền bắc Iraq.

Báo cáo ‘Cuộc sống hậu ISIS: Những thách thức mới đối với Kitô giáo tại Iraq’, dẫn chứng việc các Kitô hữu Iraq lo ngại về việc các dân quân được Iran hậu thuẫn đang hoạt động trong khu vực của họ thúc đẩy vấn đề di cư và sự bất ổn về kinh tế.

“Các Kitô hữu đã trở về quê hương vẫn cảm thấy không an toàn, và về thực chất, tình cảnh của họ quả thực bấp bênh hơn các nhóm khác trong khu vực chủ yếu là do hoạt động bạo lực của các lực lượng dân quân địa phương”, Linh mục Andrzej Halemba, lãnh đạo của Ủy ban Tái thiết Nineveh của Tổ chức ACN, viết trong phần Lời nói đầu của báo cáo.

“Mặc dù những lo ngại về kinh tế, đặc biệt là về tình trạng công ăn việc làm, là tối quan trọng trong một số lĩnh vực, không thể tách rời những điều này khỏi những cân nhắc về vấn đề an ninh. Những yếu tố quan trọng này cần được giải quyết để khắc phục sự bất an về thể chất và kinh tế vốn buộc người dân phải di cư. Nếu xu hướng di cư không được ngăn chặn, kết quả là, nó sẽ gây áp lực lớn hơn đối với các Kitô hữu còn lại ở Iraq bằng cách giảm sự hiện diện quan trọng của họ và do đó tạo ra một môi trường ít hiếu khách hơn”, Linh mục Andrzej Halemba nói.

Báo cáo của ACN cho thấy 57% Kitô hữu Iraq được khảo sát cho biết rằng họ đã cân nhắc việc di cư. Trong số đó, 55% trả lời rằng họ dự kiến sẽ rời Iraq trước năm 2024.

Số Kitô hữu sống trong các khu vực trước đây bị Nhà nước Hồi giáo chiếm đóng đã giảm từ 102.000 người xuống chỉ còn 36.000 người kể từ năm 2014. Báo cáo cho biết rằng một số Kitô hữu đã di tản, những người đã trở về Đồng bằng Nineveh khi nhà của họ được tái thiết, hiện đang chọn phương án rời bỏ khu vực.

“Vào mùa hè năm 2019, dân số Kitô giáo của khu vực này đã đạt đến điểm uốn, với việc nhiều gia đình rời bỏ quê hương xứ sở hơn là trở về khu vực. Chỉ riêng tại Baghdeda, 3.000 người Công giáo Syriac còn sót lại sau ba tháng vào năm 2019 – giảm 12% số người Công giáo Syriac trong thị trấn”, báo cáo cho biết.

“Với tình trạng di cư liên tục, tương lai của ngôn ngữ Neo-Aramaic Tây phương được gọi là Surith, và đôi khi được gọi là “Syriac” cũng bị đe dọa nếu như hậu duệ của những người nhập cư không giữ được ngôn ngữ này. Một Kitô hữu tại Bartella đã chia sẻ với ACN: “Việc học tiếng Syriac là vô cùng quan trọng vì nó là ngôn ngữ của Chúa Giêsu”.

Báo cáo chỉ ra Úc là một trong những địa điểm chính nơi các Kitô hữu Iraq di cư đến, với ít nhất 139.000 người chuyển đến nước này kể từ năm 2007.

Điều này một phần có thể được thực hiện bởi những sự kết nối gia đình của các Kitô hữu Iraq ở nước ngoài. Nghiên cứu cho thấy hầu hết các Kitô hữu đều có ít nhất một thành viên gia đình sống ở nước ngoài, điều này cung cấp thêm một sự khích lệ và kiến thức về cách thức làm thế nào để rời khỏi Iraq.

Tuy nhiên, phần lớn những người Iraq trả lời khảo sát của ACN đã viện dẫn những lo ngại về an ninh đối với những lý do liên quan đến gia đình như là lý do chính yếu khiến họ muốn di cư.

Cụ thể, sống dưới một lực dân quân được Iran hậu thuẫn có mối tương quan trực tiếp với cảm giác về sự bất an. Các nhóm dân quân Shia này hoạt động với sự cho phép của chính phủ Iraq, nhưng trước đó họ đã từ chối tuân thủ những chỉ thị của thủ tướng để hòa nhập vào quân đội Iraq.

Báo cáo của ACN trình bày chi tiết những khiếu nại của các Kitô hữu về những hành vi trộm cắp, đe dọa bạo lực và thương tích do các nhóm dân quân này gây ra, vốn đã được chính phủ Hoa Kỳ phê chuẩn như là những hành vi vi phạm nhân quyền.

Ngoài ra, nhiều Kitô hữu Iraq đang sống với nỗi sợ hãi rằng tổ chức Nhà nước Hồi giáo hoặc một nhóm tương tự sẽ quay trở lại khu vực. Cuộc khảo sát do ACN thực hiện cho thấy 87% những Kitô hữu này cảm thấy không an toàn hoặc tuyệt đối không an toàn, và 67% tin rằng “có khả năng hoặc rất có khả năng ISIS hoặc một nhóm tương tự sẽ quay trở lại trong 5 năm tới”.

“Các cuộc tranh chấp giữa chính quyền trung ương tại Baghdad và Chính quyền khu vực Kurdistan đối với một số khu vực đa số Kitô giáo cũng cản trở việc tái thiết cơ sở hạ tầng, đồng thời gây ra sự bất an hơn nữa”, theo Linh mục Halemba.

Linh mục Halemba nhấn mạnh rằng các nỗ lực tái thiết ở Đồng bằng Nineveh cần phải tiếp tục, đồng thời cũng cho biết thêm rằng số gia đình ở khu vực ngay bên cạnh vẫn muốn quay lại ước tính là hơn 2.000 gia đình.

Báo cáo, được công bố vào tháng 6, dựa trên một cuộc khảo sát lấy mẫu phân tầng được thực hiện từ tháng 8 đến tháng 11 năm 2019 trong số 793 Kitô hữu sống trong các khu vực trước đây bị Nhà nước Hồi giáo chiếm đóng ở Đồng bằng Nineveh. Báo cáo được viết bởi Linh mục Halemba và Xavier Bisits, một nhà tư vấn quản lý cho Bain & Company và nhân viên hỗ trợ dự án ACN.

Các tác giả cho biết, kết quả khảo sát đã chỉ ra rằng các tổ chức phi chính phủ, các Giáo hội và các chính phủ nên tập trung vào các nguyên nhân thúc đẩy các Kitô hữu Iraq di cư và ủng hộ việc khôi phục vấn đề an ninh tại Đồng bằng Nineveh trong sự hợp tác với các nhà lãnh đạo Giáo hội địa phương.

“Những phát hiện của Báo cáo ‘Cuộc sống hậu ISIS’ cho thấy rõ rằng việc khôi phục sự ổn định của cộng đồng Kitô giáo ở khu vực hậu xung đột này chỉ có thể xảy ra với nỗ lực phối hợp chú trọng vào vấn đề an ninh, giáo dục, các cơ hội kinh tế dài hạn và công cuộc tái thiết khu vực”, Linh mục Halemba nói.

Minh Tuệ (theo CNA)

Bài liên quan

Tin tức mới

Facebook

Youtube